Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Ông Hồ Xuân Mãn có cướp công?

Kính gửi anh Hữu Thu

[Sau khi bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Hà có tựa đề “Về lại Phong Điền” đã được photo phát tán nhiều nơi làm dấy lên sự hoài nghi, lo lắng về nhân phẩm, đạo đức và thậm chí bôi nhọ thanh danh của một con người từng là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế 2 nhiệm kỳ. Vì thế, chúng tôi đã vào cuộc tìm hiểu sự thật.]
Rất đồng tình với Hữu Thu, Anh Mãn là bí thư của tỉnh đảng bộ, bí thư của chúng ta, thanh danh của anh Mãn là thanh danh của tỉnh đảng bộ, của tất cả đảng viên thuộc tỉnh đã bằng hình thức gián tiếp hoặc trực tiếp bầu lên anh Mãn, Con người anh Mãn không chỉ là của anh Mãn, gia đình anh Mãn, anh Mãn đã là người của Đảng, Đảng là anh Mãn.
Tất nhiên, trước hết anh Mãn phải tự giữ mình, không nên có những việc làm, lời nói làm cho quần chúng mất niềm tin vào anh Mãn vì điều ấy đồng nghĩa với việc mất niềm tin vào Đảng.
Không chỉ có anh, chúng tôi những đảng viên cũng muốn biết sự thật về phẩm chất, đạo đức của bí thư tỉnh ủy...bí thư của chúng ta tốt tại sao chúng ta không bảo vệ? bí thư chúng ta không tốt cậy chức, cậy quyền để làm bậy chúng ta không ngại va chạm, né tránh mà phải phê phán để phòng ngừa để các quan của chúng ta luôn tự soi mình mà học tập và làm theo Bác...cán bộ đảng viên xem đây là một bài học đau đớn để tu dưỡng rèn luyện, như vậy Đảng mới có cán bộ có bản lĩnh chính trị, có tư cách đạo đức, vì nước vì dân...
Bài viết này của anh như một bản thành tích của anh Mãn để được công nhận danh hiệu AHLLVTND, như một cách giải trình cho anh Mãn...đây không chỉ là trách nhiệm của riêng anh, mà là trách nhiệm của đảng viên, của tỉnh ủy, trước hết là thường vụ tỉnh ủy.
Không giải trình, không làm rõ anh Mãn có xứng đáng AHLLVTND, không chỉ để ô danh anh Mãn mà còn tổn hại đến niềm tin của nhân dân vào tỉnh ủy, Ban thường vụ tỉnh ủy, của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế.


Bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Hà có giá trị như các bài viết của nhà báo Hữu Thu - Bảo Hân. Nhà báo, nhà văn phản ánh hiện thực cuộc sống. Nhân vật trong tác phẩm mới là hiện thực, con người thực. 
Nếu Mãn xứng đáng là anh hùng thì các nhân vật trong tác phẩm một thời làm Việt Cộng nói sai, vu khống là phạm vào 19 điều cấm đảng viên không được làm, dám bôi bác, làm ô danh người anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn, Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế. Chờ xem...
Cũng là nghề viết lách nhưng đứa ăn không hết, kẻ mần không ra rồi...chánh bút, bồi bút hồi sau sẽ rõ. Chánh bút, bồi bút đều đi vào lịch sử, chỉ khác nhau ở chổ được tôn trọng hay  bị khinh bỉ mà thôi...


Bài 1: Nhân chứng một thời (08/01/2013)

"Em đi đâu cũng nghe người ta bàn chuyện báo chí viết về anh Hồ Xuân Mãn. Theo em, với kinh nghiệm của mình anh nên tìm hiểu sự việc thế nào. Có phải anh Hồ Xuân Mãn là "người cướp công của đồng đội?”. Đó là E-mail của đồng nghiệp gửi cho tôi sau khi bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Hà có tựa đề "Về lại Phong Điền” đã được photo phát tán nhiều nơi làm dấy lên sự hoài nghi, lo lắng về nhân phẩm, đạo đức và thậm chí bôi nhọ thanh danh của một con người từng là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế 2 nhiệm kỳ. Vì thế, chúng tôi đã vào cuộc tìm hiểu sự thật.


Giấy chứng nhận Dũng sĩ, Chiến sĩ thi đua
trong những năm chiến tranh mà ông Hồ Xuân Mãn còn lưu

Ông Hồ Xuân Mãn, sinh năm 1949, quê ở thôn Phò Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế; tham gia cách mạng khi 14 tuổi, đến năm 1967 thì thoát ly gia đình, trực tiếp cầm súng đánh giặc. Trong những năm chiến tranh, từ một chiến sĩ an ninh vũ trang tỉnh Thừa Thiên, ông làm Đội trưởng Trinh sát an ninh vũ trang Ban An ninh huyện Phong Điền. Từ năm 1973 cho đến ngày quê hương Thừa Thiên - Huế giải phóng (26-3-1975), ông Hồ Xuân Mãn là Trưởng ban An ninh kiêm Xã đội trưởng xã Phong An, huyện Phong Điền. Suốt thời gian 5 năm (1970 -1975) bám dân, bám đất và kề vai sát cánh cùng đồng chí, đồng đội, ông Hồ Xuân Mãn đã lập nhiều chiến công xuất sắc và góp phần tạo nên vành đai Sơn - An - Nguyên diệt Mỹ nổi tiếng.

Năm 1994, tại khách sạn Hương Giang (Huế), thấy ông Lê Việt Hà (Trưởng Công an TP. Huế) gọi, xưng hô rất thân mật với ông Hồ Xuân Mãn (Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy), tôi hỏi: "Hai anh đã thân nhau à?”. Ông Lê Việt Hà cho biết: "Từ giữa năm 1968, ở vùng thượng nguồn sông Bồ, trên đường đi công tác, bọn mình gặp biệt kích Mỹ”. Rồi chỉ vào ông Hồ Xuân Mãn đang ngồi đối diện, ông Hà khẳng định: "Chính anh Mãn đã cõng và cứu mình thoát chết. Nghĩa tình sâu đậm lắm, không ở trong cuộc không biết mô!”.

Đại tá Nguyễn Việt Hùng - nguyên Giám thị Trại giam Bình Điền, quê ở xã Thủy Vân, thị xã Hương Thủy nhớ lại: "Toán chúng tôi có 3 người. Anh Lê Việt Hà đi đầu, kế đến là tôi và anh Hồ Xuân Mãn. Trong khi chúng tôi đang leo dốc thì địch bất ngờ nổ súng. Anh Hà kêu thất thanh: -Hùng ơi, mình bị thương rồi! Tôi hỏi anh Mãn: Anh Hà bị thương thì mần răng?Anh Mãn nói: -Phải đưa lui và cấp cứu ngay! Trong khi chúng tôi thay nhau cõng  tìm nơi để vừa tránh địch vừa tiến hành băng bó vết thương thì anh Lê Việt Hà trăng trối: "Đ/c Lớn đang nợ tôi mấy chục triệu” (tiền của chế độ cũ, anh Hà ứng để về đồng bằng mua gạo cho đơn vị) và hô khẩu hiệu: Đảng Lao động muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Hô đến lần thứ 3 thì anh Hà ngất lịm. Chúng tôi tưởng anh Lê Việt Hà đã hy sinh nên đem giấu vào một bụi rậm rồi tìm đường trở lại đơn vị, bởi lúc này địch đã gọi máy bay đến oanh kích rất dữ dội. Sáng hôm sau chúng tôi được đơn vị phân công quay trở lại tìm kiếm anh Lê Việt Hà. Ngoài 2 chúng tôi còn có thêm anh Hồ Văn Ninh, sau này là Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Thừa Thiên - Huế (vừa nghỉ hưu). Tìm mãi không thấy, anh Mãn ngại rằng, không lẽ ngửi được mùi máu, cọp đã tha xác anh Hà? Dù vậy, cả mấy anh em chúng tôi phân nhau tìm kiếm, nếu hy sinh thì phải tìm cho được thi thể của anh Lê Việt Hà để mai táng và báo cáo cho đơn vị. Hóa ra nửa đêm tỉnh lại, anh Lê Việt Hà đã bò đi tìm nước uống và bị ngất xỉu nên nằm lại bên bụi lá nón, gần bờ khe. Anh Lê Việt Hà thoát chết trong hoàn cảnh ấy”.

Trong hồi ký của mình, ông Lê Sáu, quê ở huyện Phú Lộc, nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên, nguyên Bí thư Huyện ủy Phong Điền thuật lại: "Ngày 6-9-1969, tôi được Thường vụ Khu ủy Trị Thiên - Huế điều động trở lại Phong - Quảng Điền thay đồng chí Vũ Thắng (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế) làm Bí thư Huyện ủy Phong Điền phụ trách Quảng Điền. Đầu năm 1970, sau khi đồng chí Hồ Xuân Mãn dự học lớp nghiệp vụ An ninh ở Quảng Bình vào, theo đề nghị của tôi, đồng chí Tư Minh - Phó Bí thư Khu ủy, Trưởng ban An ninh Khu đồng ý không để đồng chí Hồ Xuân Mãn về lại đơn vị cũ mà chuyển về công tác tại Ban An ninh huyện Phong Điền do tôi làm Trưởng ban. Mãi đến khi đồng chí Ngô Văn Viện (cần vụ) bị thương mới chọn đồng chí Hồ Xuân Mãn làm thư ký và bảo vệ cho tôi. Lớp học nghiệp vụ An ninh 3 tháng được tổ chức tại xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình do ông Hồng Lam, cán bộ An ninh Khu ủy Trị Thiên - Huế phụ trách. Đồng chí Nguyễn Đình Bảy - Phó Ban An ninh Khu ủy Trị Thiên - Huế; Vĩnh Thành - Trưởng Ty Công an Đặc khu Vĩnh Linh cùng nhiều cán bộ của C500 được Bộ Công An cử vào tham gia giảng dạy. Lớp học chỉ có 2 trung đội. Một do ông Ngọc Anh (quê Hương Trà, chồng của chị Lành, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ Huế) làm Trung đội trưởng. Trung đội còn lại do ông Hồ Xuân Mãn làm Trung đội trưởng. Số học viên nay chỉ còn vài người như: ông Nguyện (nguyên Phó Phòng Tổ chức Công an Thừa Thiên - Huế), ông Cưụ (Công an Phong Điền), bà Điền, bà Hợi (Công an Hương Điền cũ), ông Cống (Công an Quảng Điền), ông Kiên (Công an Phú Lộc), ông Nguyễn Việt Hùng (nguyên Giám thị Trại giam Bình Điền), chị Lê Thị Thu (nguyên Phó Chánh Văn phòng UBMTTQ tỉnh Thừa Thiên - Huế)... Cuối  năm 1970, Thường vụ Huyện ủy Phong Điều quyết định cử đồng chí Hồ Xuân Mãn làm Đội trưởng Trinh sát An ninh ở Phong An - Phong Sơn”.

Ông Ngô Kha, quê ở Quảng Trị, sau khi tốt nghiệp Đại học, năm 1964 đã vào chiến trường Thừa Thiên - Huế công tác. Trong những năm chiến tranh, ông Phụ trách Báo Cờ giải phóng, Bí thư Đảng ủy Ban Tuyên huấn Thừa Thiên. Ông Ngô Kha cho biết: "Hễ lần nào tỉnh mở Đại hội chiến sĩ thi đua thì lần đó đều có anh Hồ Xuân Mãn tham dự. Tôi biết rõ điều này vì  tôi được phân công viết giúp bản báo cáo thành tích cho anh Mãn và nhiều người khác. Năm 1973, sau Đại hội thi đua của tỉnh Thừa Thiên, một số cán bộ tiêu biểu được chọn đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua tổng kết 18 năm chống Mỹ của Quân khu Trị Thiên - Huế tổ chức ở Cồn Tiên - Quảng Trị. Ông Ngô Kha là đại biểu chính thức. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tham dự Đại hội với tư cách là phóng viên Tạp chí Văn nghệ Trị Thiên - Huế vừa mới thành lập”.

Ông Hồ Viết Lễ - nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Thương mại Thừa Thiên - Huế, một trong những Chiến sĩ thi đua tham dự Đại hội ở Cồn Tiên  nhớ lại: "Theo kế hoạch, tôi được phân công báo cáo điển hình xã T.(tức Phú Thạnh - Phú Đa ngày nay), anh Nguyễn Văn Thạnh báo cáo điển hình xã M. (tức Mỹ Thủy - Thủy Phương), anh Hồ Xuân Mãn báo cáo điển hình xã A. (tức xã Phong An).”

Ngoài 3 lần tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua, ông Hồ Xuân Mãn từng đã có 33 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 Huân chương Giải phóng các hạng và 1 Huân chương Quyết thắng, 3 huy hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và cả giấy chứng nhận danh hiệu "Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”.

Trong những chiến công xuất sắc của ông Hồ Xuân Mãn, theo ông Lê Sáu thì việc ông Hồ Xuân Mãn phối hợp với lực lượng của 2 xã Phong An -Phong Sơn vào đầu tháng 10-1972 diệt được tên ác ôn khét tiếng (xin không nêu tên) là vang dội nhất, vì tên này có đặc điểm là sau khi sát hại cán bộ, du kích của ta, hắn tự xẻo tai rồi đeo lên cổ. Hắn khoe đã giết được 82 cán bộ, du kích Phong - Quảng nằm vùng. Trong hồi ký của mình, ông Lê Sáu còn dẫn nhiều trường hợp anh Hồ Xuân Mãn đã cùng đồng đội tham gia diệt ác trừ gian và tổ chức đánh địch rất cụ thể, nhưng vì đó là chiến tranh và phần lớn vợ con họ hiện đang còn sống, có những người cùng quê; hơn nữa Đảng ta chủ trương khép lại quá khứ nên ông Lê Sáu không đồng ý nêu cụ thể.
Hữu Thu-Bảo Hân


Bài 2: Những chiến công thầm lặng (09/01/2013)

Sau Hiệp định Paris 1973, địch dùng 1 tiểu đoàn biệt động quân và 1 đại đội cảnh sát dã chiến có xe tăng yểm trợ để tái chiếm xã Phong An. Sau khi tái chiếm, chúng tiến hành bình định, thanh lọc. Nhiều đảng viên, an ninh, du kích của  ta bị bắt, tra tấn tù đày, thậm chí còn bị thủ tiêu.


Để bảo toàn lực lượng, Huyện ủy Phong Điền chủ trương gấp rút đưa những cơ sở còn lại ra vùng giải phóng. Nhận nhiệm vụ của cấp trên giao, ông Hồ Xuân Mãn đã cùng với lực lượng 2 xã Phong An và Phong Sơn bí mật tổ chức đưa hơn 20 gia đình cơ sở cách mạng lên chiến khu. 

 Sau gần 1 tháng rời địa bàn đi dự Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua ở Cồn Tiên, ông Hồ Xuân Mãn quay trở lại A Lưới và biết ở quê mình chị Hạnh - Huyện ủy viên, Bí thư xã Phong An; anh Đời - Bí thư xã Phong Sơn; anh Thuận - Xã đội trưởng Phong An; anh Đàm, anh Anh - du kích và nhiều đồng chí khác đã lần lượt hy sinh. Trước tình hình đó, ông báo cáo với ông Vũ Thắng - Bí thư Tỉnh ủy và ông Nguyễn Đình Bảy - Phó Ban An ninh Khu ủy xin trở lại Phong Điền. Về đến nơi, ông Lê Tư Sơn - Bí thư Huyện  ủy, ông Phạm Văn Danh - Trưởng Ban An ninh huyện cho ông Hồ Xuân Mãn biết: "Tình hình Phong An bây giờ gay go lắm. Thường vụ tin đồng chí và giao đồng chí tìm mọi cách trở lại chỉ đạo phong trào.” 

Liên quan đến nội dung bài viết "Về lại Phong Điền” của nhà văn Nguyễn Quang Hà, ngày 5-12-2012, ông Đồng Hữu Vinh - Trung tá, Chính trị viên phó kiêm Chủ nhiệm Chính trị Ban CHQS huyện Phong Điền và ông Nguyễn Văn Lương - Thượng tá, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Phong Điền đã có văn bản phản hồi. Ông Đồng Hữu Vinh cho biết: "Tôi thấy rằng: một số nội dung và ngôn từ của bài báo phản ánh không đúng sự thật và bị cường điệu hóa làm cho người đọc hiểu sai vấn đề.”...Có đoạn thoại (trích đăng trong bài báo), theo khẳng định của ông Đồng Hữu Vinh "là hoàn toàn sai sự thật”.
Để tránh địch phát hiện, ông Hồ Xuân Mãn và ông Hùng (du kích) lội xuống bàu (ruộng sâu) dùng cỏ để ngụy trang. Trong cuộc đời tham gia hoạt động cách mạng của ông Hồ Xuân Mãn, theo ông đây là thời điểm gian khổ nhất, vì ban đêm thì lạnh, muỗi bu kín đầu còn ban ngày nắng như đổ lửa, nước lại nóng, bụng đói lại bị đỉa hành. Đêm xuống, cởi hết áo quần, toàn thân đầm đìa máu và đỉa. Hai ngày sau, họ mới tiếp cận được ấp Phò Ninh và gặp được chị Nguyệt - cơ sở của ta. Chị Nguyệt khuyên họ: "Đi đi, ở đây là chết vì địch đóng ở khắp nơi”. Thông qua chị Nguyệt, cuối cùng ông Hồ Xuân Mãn đã gặp được chị Hoa - cơ sở mật của an ninh. Gặp lại cán bộ cách mạng, chị Hoa òa khóc: "Chết hết rồi, chú về chi nữa!”

Từ đó, cùng với anh em an ninh, du kích, ông Hồ Xuân Mãn gây dựng lại phong trào. Chi bộ mật, Chi đoàn mật, 5 tổ du kích mật được khôi phục và hoạt động trở lại. Tháng 3-1975, mặc dù không có lực lượng chủ lực hỗ trợ nhưng ông Hồ Xuân Mãn đã cùng lực lượng tại chỗ tổ chức nhân dân 2 xã Phong An - Phong Sơn nổi dậy, phá toang cánh cửa phía Bắc, tạo điều kiện cho Quân đoàn II tiến quân vào giải phóng Huế.

Nếu không được nghe những người trong cuộc kể lại những câu chuyện sau đây thì khó mà hình dung về phẩm chất của một người anh hùng một lòng kiên trung với Đảng, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ cán bộ lãnh đạo trong những năm đầy gian khổ và ác liệt của chiến tranh.

Đó là tháng 6-1970, một đoàn cán bộ 5 người, gồm ông Vũ Thắng - Bí thư Đảng ủy Đoàn 6 và 2 cần vụ, ông Lê Sáu - Bí thư Huyện ủy Phong Điền, Thường vụ Đảng ủy Đoàn 6, do ông Hồ Xuân Mãn (lúc đó là  thư ký và bảo vệ cho đồng chí Lê Sáu) dẫn đầu hành quân từ dốc Cao Bồi trên đất Lào để trở về hậu cứ Phong Điền. Do đoàn không có trinh sát, không có giao liên dẫn đường nên tính mạng của 4 con người, trong đó có 2 vị lãnh đạo chủ chốt của Thừa Thiên đều phó thác vào ông Hồ Xuân Mãn. Khi đến đoạn đường gần cao điểm Cóc Bai - ngã 3 Quảng Trị thì diễn ra tình huống: địch vừa phục kích và cắm 3 cái đầu máu đang còn chảy. Trước diễn biến bất ngờ đó, ông Hồ Xuân Mãn đã cùng với ông Viết (bảo vệ của đồng chí Vũ Thắng) tiến hành kiểm tra. Biết địch đã rút, không gài lựu đạn nên cả đoàn tổ chức mai táng. Nhóm 3 người của Đoàn 6 tạm dừng lại chờ dò đường, còn ông Mãn, ông Sáu tiếp tục đi. Gần giữa chiều, linh cảm bất an nên ông Mãn dừng lại nói nhỏ với Thủ trưởng của mình: "Chú đợi cháu ở đây” rồi  tiếp tục trinh sát. Được một quãng, ông Mãn phát hiện giữa đường địch lại cắm 1 cái đầu. Đi tiếp, ông lại phát hiện thêm 1 cái đầu khác. Cả 2 máu còn chảy, chứng tỏ địch vừa phục kích tại đây.


Văn bản của ông Đồng Hữu Vinh và Nguyễn Văn Lương 
có xác nhận của Thượng tá Đặng Trần Sơn 
- Chính trị viên  Ban CHQS huyện Phong Điền

 Kể cho nghe tôi nghe đến đoạn này ông Lê Sáu nói: "Thú thật đến lúc đó mình cảm thấy ớn lạnh. Phải là con người gan lỳ, không biết sợ mới dám liều lĩnh đi một mình như thế. Đó là phẩm chất của một anh hùng!”. 

Về đến căn cứ của xã Phong Thu, ông Hồ Xuân Mãn lại nhận nhiệm vụ đi tìm gạo, muối cứu đói cho bộ phận của ông Phan Bằng - Tỉnh đội trưởng và ông Võ Lạng (sau giải phóng là Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc) - Cán bộ tổ chức của Trung đoàn 6 đã đói nhiều ngày đang tìm đến để xin tiếp tế. Đó là một nhiệm vụ rất nguy hiểm. Trong những năm chiến tranh, để bảo vệ số lương thực cất giấu, trước khi chuyển chỗ đóng quân, anh em ta thường gài lựu đạn để phòng địch hoặc thú rừng phá hoại. Anh Hoàng Khuê (Thu) - Bí thư xã Phong Thu đã chết vì mìn do anh em gài lại ở hầm cũ. Trước khi đi, ông Lê Sáu dặn ông Mãn: Phải hết sức cẩn thận "vì đồng chí là người duy nhất gắn liền sinh mạng với tôi và sứ mệnh của Đảng bộ 2 huyện Phong - Quảng”.

Ông  Lê Sáu thuật lại trong hồi ký: "Như một người đi dò mìn, anh Mãn lần từng đoạn, phát hiện vật nổ cả dưới đất lẫn trên cây, vượt qua đoạn này đến đoạn khác. Gần 12 giờ trưa anh Mãn mới tìm ra chỗ giấu gạo, muối và gùi về được 50 lon gạo, 3 lon muối và mang theo 2 quả lựu đạn mà anh em mình đã gài ở miệng hầm. Anh Mãn chia cho anh Phan Hường 18 lon gạo, 1 lon muối, anh Võ Lạng 32 lon gạo, 2 lon muối. Cân lương khô mang từ khu ủy về anh Mãn cũng cho luôn đoàn của anh Võ Lạng.”

Trong hồi ký của mình, ông Lê Sáu còn ghi lại kỷ niệm mà trong gần 10 năm làm Bí thư Huyện ủy Phong Điền, ông không bao giờ quên cái đêm anh Hồ Xuân Mãn tổ chức đưa ông vượt qua căn cứ địch ở Đồng Lâm - Ngành Ngạnh. Ông Sáu cho biết: "Đoạn đường không dài mà ở đó có 36 cụm biệt kích Mỹ chốt giữ. Đêm đó, tôi bị vọt bẻ nên phải lết từng bước một, tránh hết ổ biệt kích này, lết qua ổ biệt kích khác chốt xen kẽ nhau giữa các quả đồi. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, địch phát hiện được, chúng tôi chỉ có tử chiến, khó thoát chết.”.

Sự thật về năm tháng chiến đấu can trường của ông Hồ Xuân Mãn có thể viết thành một cuốn truyện ký. Tuy nhiên, chỉ riêng một số thông tin vừa nêu cũng đã đủ hình dung về phẩm chất của một cán bộ nằm vùng. Điều cần nói thêm là kể từ khi đất nước đổi mới, từ một Bí thư Huyện ủy, ông Hồ Xuân Mãn phấn đấu và trở thành Bí thư Tỉnh ủy 2 nhiệm kỳ, được tặng thêm 8 Huân chương, trong đó có 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì và 1 Huân chương chuyên án an ninh tôn giáo, 1 Huân chương Đại Đoàn Kết dân tộc, 1 Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 1 Huân chương Hữu nghị, 1 Huân chương Itxala. 

Năm 2010, xét thành tích cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ông Hồ Xuân Mãn được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
Hữu Thu - Bảo Hân
Bài 3
Anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh
9:55, 31/01/2013


Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Xuân Mãn.

Đêm 9/9/1966, có một chàng trai chưa tròn 16 tuổi, từ biệt cha mẹ, ông nội  và làng Phò Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên để cùng những người bạn đồng liêu là các anh Hoàng Xê, Hồ A… tìm đường lên chiến khu tham gia kháng chiến, gia nhập vào Đại đội An ninh vũ trang đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên. Trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc trên mặt trận Thừa Thiên, anh đã cùng với những đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh "xuất quỷ nhập thần" làm cho quân lực Hoa Kỳ và binh sĩ quân đội Sài Gòn nhiều phen kinh hồn, bạt vía…
Kẻ thù từng xem anh là "tên an ninh Việt Cộng đặc biệt nguy hiểm" và đã nhiều lần đưa ảnh chân dung của anh lên mục cáo thị để treo giá trọng thưởng bằng tiền cho bất cứ ai bắt sống hoặc tiêu diệt được anh (Theo hồ sơ của Cảnh sát đặc biệt chế độ Sài Gòn để lại - NV). Chàng trai lớn lên từ đất làng Phò Ninh ấy tên là Hồ Xuân Mãn - một người đã đi qua chiến tranh với 33 lần được phong dũng sĩ, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 Huân chương Giải phóng các hạng và 1 Huân chương Quyết thắng, 3 huy hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và cả giấy chứng nhận danh hiệu "Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường".
Sau này, trong công cuộc dựng xây quê hương, đất nước, ông là Ủy viên Trung ương Đảng, 2 nhiệm kỳ liên tiếp giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Một ngày cuối năm se lạnh ở làng Phò Ninh, trên bậc thềm của ngôi nhà hương hỏa của gia đình, tôi có dịp ngồi đối diện cùng ông để được nghe ông kể thật nhiều những câu chuyện của tuổi thơ nghèo khó, những năm tháng tham gia kháng chiến vào sinh ra tử rồi thời kỳ hậu chiến vất vả, kiến thiết xây dựng quê hương và cả những được mất, buồn vui của một đời người…
Ông kể rằng, khi mình lớn lên, biết suy nghĩ mới thấy những người thân của mình, bà con làng xóm của mình đã bao năm phải chịu đựng dưới nhiều tầng áp bức của chế độ đương thời. Được giác ngộ bởi chính những người thân trong gia đình đã tham gia cách mạng trước đó, cùng với bầu máu nóng của lớp người trẻ tuổi, vậy là ông cùng với những người bạn đồng liêu trong làng quyết định ra đi. Ông kể, ngày đó quyết tâm lên rừng theo cách mạng nhưng chưa thấu tỏ cách mạng là gì hết.
Đêm hôm ấy ra đi cùng với Hoàng Xê, Hồ A và một người bạn nữa tên là Hoàng Nãi, nhà ở cạnh nhà ông. Nhưng khi đến giờ hẹn để lên đường thì anh Nãi bảo rằng đi bộ đội chủ lực xa nhà quá, thôi thì để anh ở lại đi du kích địa phương, vậy là chỉ còn lại ba anh em lặng lẽ tìm đường đến điểm hẹn có người đưa lên chiến khu trong đêm tối. Hành trang lên hậu cứ cách mạng của Hồ Xuân Mãn ngày ấy chỉ có một chiếc võng, một chiếc dù của ông nội tặng, mẹ ông mua cho đôi dép mới, hai bánh đường đen với hai lon đậu huyết (đậu đỏ - NV) của gia đình trồng được.
Đúng giờ hẹn, giao liên có mặt để đưa ba anh em lên đường. Từ Phong An đi lên hướng xã Phong Sơn, vượt dốc Ba Trục ở chỗ khu du lịch nước khoáng Thanh Tân bây giờ, rồi luồn rừng đi mất một đêm hôm đó với gần một ngày hôm sau mới đến chiến khu. Đến nơi, ba anh em nhìn nhau rơm rớm nước mắt vì trước lúc đi ai cũng nghĩ rằng ở vùng Cách mạng cũng có nhà, có xe, có mọi thứ chứ cả ba người không ai hình dung được cách mạng lúc ấy chỉ là vài cái lán nhỏ bằng tranh tre nứa lá được dựng chênh vênh bên cạnh bờ suối ở trong rừng già, xung quanh chỉ toàn là những thứ âm thanh lạ kỳ của chim kêu, vượn hú…
Chiều hôm ấy, cả ba người được các chú, các bác trong hậu cứ nấu cơm cho ăn, ăn cơm xong thì cả ba người ngồi ôm nhau khóc vì nhớ nhà. Thỉnh thoảng nghe từ phía bờ suối vọng lên tiếng kêu quép… quép… của mấy con ếch ương, hỏi mấy ông cán bộ con gì kêu, mấy ông cán bộ bảo đó là tiếng kêu của cọp. Nghe đến đó là cả ba người hoang mang đến tột độ. Ngày hôm sau, cấp dưỡng nấu cơm nhưng cả ba đều ủ ê nằm khóc, không một ai dậy ăn cơm mà nằm bàn với nhau "thôi thì trốn về quê đi du kích, chứ ở giữa rừng già này thì biết làm sao…".
Bước qua ngày thứ ba ở rừng thì anh Vân (người quê gốc ở Hải Phòng do Bộ tư lệnh Công an vũ trang chi viện vào làm Đại đội trưởng, anh Minh Chính trị viên; anh Lợi người ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên là Đại đội phó) gọi ba người dậy để động viên, anh Vân nói: "Nếu mấy chú muốn về thì các anh cho về, nhưng bây giờ không có giao liên nên các chú phải tự đi, cái khó là bây giờ mấy chú đi ra là cọp nó chụp liền, chết mà không toàn thây vì bị cọp ăn thì cũng khổ…". Nghe xong, cả ba nhìn nhau rồi bằng lòng ở lại. Ở hậu cứ được chừng một tuần lễ thì cả ba anh em bắt đầu bị sốt, nằm liệt gần một tháng trời, đứa nào cũng xanh xương, vàng da, trên đầu rụng không còn lấy một sợi tóc.
Ông Mãn nhớ lại, nằm trong lán vật vã phải hơn một tháng sau mới khỏe, khi thấy đã quen với đời sống núi rừng thì các đồng chí lãnh đạo mới cho đi huấn luyện. Lúc đó, mỗi đứa được phát một cây súng K44 (loại súng bỏ từng viên đạn rất to rồi lắc để bắn), ôm cây súng trên tay mà nước mắt chảy dài vì cây súng ấy dựng lên đã cao hơn mình một đoạn. Những ngày ấy ở chiến khu, anh em trẻ như ông chủ yếu là được đơn vị cho đi bảo vệ mục tiêu lúc đó là cơ quan tỉnh ủy, rồi đi tuần xung quanh khu vực đóng quân.
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông Hồ Xuân Mãn.

Nhấp một ngụm trà đang tỏa hương ngào ngạt, ông Mãn kể tiếp: Cho đến bây giờ ông vẫn không thể nào quên được cái buổi chiều đầu tiên trong cuộc đời mình nhìn thấy máu chảy. Đó là một buổi chiều đầu năm 1966, sau khi Tiểu đội bảo vệ của ông được giao nhiệm vụ đi bảo vệ Đại hội thi đua của tỉnh trở về, trên đường về thì gặp trời mưa, với lại anh em tranh thủ dọc đường hái măng giang để mang về cải thiện đời sống nên áo quần người nào cũng bẩn. Vừa về đến lán trại của đơn vị, để súng đạn và số măng giang hái được ngổn ngang trên sàn là anh em lao ngay xuống suối tắm.
Tắm xong thì anh Thành quê ở xã Quảng Điền (nay còn sống ở Quảng Điền - NV) lên trước ngồi lau súng, tiếp đó anh em theo lên nhưng còn lại một người là anh Huề quê ở xã Phong Sơn là Tiểu đội trưởng mà không ai hay biết. Vừa ngồi lau súng, anh Thành vừa hỏi "còn đứa nào dưới suối không? Cũng chẳng thấy ai trả lời nên anh Thành thử siết cò thì bỗng dưng súng nổ. Từ dưới suối, anh Huề la toáng lên: "Chết rồi tụi bây ơi…tao gãy chân rồi…".
Hoảng hốt, tất cả anh em đều chạy ào xuống suối và thấy anh Huề đang quằn quại với cái chân đầy máu. Hôm đó, sau khi anh em lo băng bó, chữa thương cho anh Huề xong thì phải lo giải quyết những bức xúc của mấy anh em là người dân tộc thiểu số trong cùng tiểu đội. Cù Mi, Cù Đức và Cù Toản vì quá thương tiểu đội trưởng Huề mà cho rằng anh Thành là người theo địch và vì theo địch nên mới vác súng bắn Tiểu đội trưởng Huề.
Để trả thù cho Tiểu đội trưởng Huề, Cù Mi đã đi tìm anh Thành để trả thù. Đêm đó, mọi người phải đem anh Thành đi giấu ở một nơi bí mật và rạng sáng hôm sau thì đến gõ cửa cơ quan tỉnh ủy để báo cáo sự việc và xin chuyển công tác cho anh Thành về đó làm giao liên.
Suốt cả năm 1966, ông cùng đơn vị hoạt động ở vùng rừng núi ở Khe Trái, phải đến đầu năm 1967 thì mới được cấp trên cho phép về hoạt động ở vùng đồng bằng. Nhiệm vụ lúc ấy của an ninh vũ trang là xuống các xã của huyện Phong Điền, Hương Trà để phối hợp với các lực lượng "diệt ác, phá kìm", mở rộng vùng giải phóng, nới rộng dần phạm vi hoạt động. Cũng năm này, lần đầu tiên mới chính thức đụng độ với lính bộ binh của Mỹ. Ông Mãn kể, hôm ấy trung đội của ông nhận nhiệm vụ chống càn với một đại đội lính biệt kích Mỹ tập kích vào hậu cứ.
Theo phân công, cứ hai đồng chí của ta chịu trách nhiệm tiêu diệt một lính Mỹ, kế hoạch là bí mật phải đợi đến khi mục tiêu cách điểm phục kích 50 mét mới được siết cò súng. Lần đầu tiên đánh Mỹ, không riêng gì ông Mãn mà hầu hết anh em trong trung đội với vũ khí khá lạc hậu chủ yếu là súng bán tự động, súng K50, K43 Tuyn cải tiến từ chiến tranh chống Pháp còn lại, đều thấy hoang mang khi nhìn thấy đại đội lính Mỹ to lớn, kềnh càng súng đạn dàn hàng ngang tiến vào đội hình.
Y lệnh trên, khi thấy mục tiêu đã vào địa điểm cho phép là anh em đồng loạt bóp cò, sau đó rút nhanh để đề phòng phi pháo và bảo toàn lực lượng. Tổng kết trận đó, trung đội ông đã tiêu diệt 14 lính Mỹ. Anh em rất phấn khởi vì tin tưởng một cách chắc chắn rằng là mình đánh được Mỹ (trước thời điểm ông Mãn đánh Mỹ thì ở chiến trường Quảng Nam và các đơn vị du kích cũng như chủ lực của ta ở chiến trường Thừa Thiên cũng đã đánh Mỹ - NV). Từ đó, cứ theo năm tháng đánh địch, Đại đội An ninh vũ trang đa số anh em đều rất có kinh nghiệm và dạn dày trận mạc.
Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị chỉ để lại một đại đội làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu ở hậu cứ, số còn lại được tăng cường để nâng cấp thành Tiểu đoàn Trinh sát vũ trang do ông Hải làm Tiểu đoàn trưởng (tiểu đoàn này sau được phong Anh hùng lực lượng vũ trang, hiện có các ông Lê Việt Hà, Bạch Hiền, Phê "điếc", Điệp "đui", Bạn… hiện đang sống tại Huế). Tiểu đoàn trinh sát này được trang bị hỏa lực rất mạnh (cứ 3 người có một khẩu B40, 2 khẩu AK báng gấp) để đánh luồn sâu vào nội thành và chuẩn bị cho cuộc tiến công.
Lúc bấy giờ, Đại đội An ninh vũ trang được bố trí một trung đội ở lại bảo vệ hậu cứ, một trung đội phối hợp với lực lượng An ninh Hương Trà bảo vệ trại giam, tiếp nhận tù binh và tài liệu, một trung đội phối hợp với các lực lượng chiến đấu vào thành phố Huế. Trung đội này chia thành 2 nhóm, một nhóm đi cùng với bộ đội chủ lực và trinh sát vũ trang để tiếp quản, vận chuyển tài liệu và dẫn giải tù binh, đặc biệt là loại tình báo, gián điệp. (Các đồng chí làm công tác dẫn giải tù binh đa số là anh em người đồng bào dân tộc như: đồng chí Cu Mi, Cu Đích, Cu Pả…).
Nhóm của ông Mãn đi theo Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 do đồng chí Khảm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Khả Phiêu (sau này là Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng) làm Chính ủy. Vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, trinh sát, dẫn đường, vận động nhân dân tiếp tế lương thực. Ông Mãn bảo rằng, chiến dịch Mậu Thân năm 1968 với đồng chí Lê Khả Phiêu có thật nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Tỷ dụ như chuyện anh em tìm được đồng chí Quốc Bảo bị thương nặng nằm sót lại ở Cửa Đông Ba (nay anh Bảo còn sống và làm kinh doanh).
Nhớ nhất là chuyện, sau khi cả tổ dẫn  Trung đoàn 9, kể cả thương binh ra vùng giải phóng, vừa đi vừa đánh nhau với Sư đoàn Kị binh Không vận số 1 của địch. Lên đến vùng A Lưới, súng mỗi khẩu chỉ còn một ít đạn, 1 đồng chí lại vác từ 2 đến 3 khẩu (vì còn phải cáng thương binh), bộ đội không đi nổi vì thiếu lương thực, xin đồng bào dân tộc cũng không có nhiều.
Đồng bào và du kích địa phương nói rằng: Bộ đội cần sắn để ăn, mình cần súng để đánh Mỹ, hay là bộ đội đổi cho mình? Lúc bấy giờ, đồng chí Lê Khả Phiêu đồng ý, cứ mỗi khẩu CKC là 3 gùi sắn, nhờ thế bộ đội có cái ăn để hành quân đến vùng giáp với biên giới Việt - Lào. Sau này, mỗi lần gặp lại đồng chí Lê Khả Phiêu, đồng chí ấy bảo rằng "vụ lấy súng đổi sắn hồi Mậu Thân suýt nữa thì bị Quân khu kỷ luật, nhưng sau khi nghe mình phân tích có lý, có tình nên Quân khu lại hoan nghênh…". 
(Còn nữa)

  Phan Bùi Bảo Thy

Người con ưu tú của đất Phò Ninh (tiếp theo và hết)
3:10, 02/02/2013

Từ A Lưới, tổ của ông Mãn quay trở lại Hương Trà để cùng với Đại đội An ninh vũ trang đánh địch, mở đường cho Tỉnh ủy chuyển từ Khe Trái, Hương Trà về khu vực Khê Đầy, Hương Thủy để trú ẩn. Thời kỳ này, ở Khe Trái máy bay B52 của địch oanh kích một ngày không biết bao nhiêu lần, đạn từ máy bay rót xuống dày đặc, rừng núi trơ trụi, hố bom chồng lên hố bom. Chỉ có các cơ quan đầu não như Thành ủy, Tỉnh ủy, Ty Công an là di chuyển an toàn, còn lại những đơn vị chưa di chuyển được, nhất là kho tàng thì bị thiệt hại rất nặng nề sau nhiều ngày rải thảm của địch.
>> Anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh

Năm 1969, ông Mãn được đơn vị bầu là Chiến sĩ thi đua và giữa năm 1969, được Ban An ninh khu cử đi học lớp nghiệp vụ 3 tháng ở Quảng Bình. Đầu năm 1970, ông Mãn được ông Lê Sáu - Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy - Bí thư Huyện ủy xin về địa bàn Phong Điền làm thư ký và bảo vệ.
Khi trở lại vùng đất Phong Điền - Quảng Điền thì cán bộ cơ sở không còn nhiều nữa vì bị phản kích. Lúc bấy giờ, lãnh đạo quyết định trưng dụng quân của Đại đội 1, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6 do ông Vũ Thắng (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư tỉnh ủy Bình Trị Thiên - NV) làm Chính ủy về tăng cường cho các địa phương để bổ sung vào lực lượng du kích. Có những người đang là đại đội trưởng, đại đội phó một đơn vị chủ lực, tăng cường làm xã đội trưởng. Như trường hợp của đồng chí Tăng Văn Phả, đại đội trưởng được tăng cường làm xã đội trưởng xã Phong Sơn (sau này đồng chí Phả là Bí thư tỉnh ủy Hà Nam - NV) .
Là người dân địa phương, ông Mãn thấy rằng nếu thực hiện chính sách đưa quân chủ lực về tăng cường địa phương sẽ vô cùng nguy hiểm, hơn nữa phương án này anh em sẽ hy sinh nhiều. Thứ nhất vì quân chủ lực về ở địa phương không ai rành đường sá; thứ hai anh em không rành các phương án xây dựng cơ sở bí mật tại địa phương. Vì lẽ đó, ông Mãn đã xin ý kiến lãnh đạo để được chuyển hướng hoạt động, tức là không nằm vùng ở dọc tuyến phía ngoài (đồi rú, bờ ruộng, ao bàu) mà chuyển hẳn vào nằm vùng bí mật trong dân. Tổ chức xây dựng nên một vùng căn cứ lỏm ở ngay trong địa bàn các thôn xóm. Ở đó, ông đã cùng với các đồng chí của mình bám trụ, xây dựng các đơn vị du kích, chi bộ mật. Thời điểm này, cả Phong An, Phong Điền có gần 2 trung đội du kích mật và 3 chi bộ, chi đoàn mật.
Năm 1971, ông đã cùng với lực lượng du kích ở xã Phong An luồn sâu vào vùng địch hậu, tấn công tiêu diệt nhiều lực lượng phòng vệ dân sự của địch. Đưa hơn 40 thanh niên lên hậu cứ bổ sung thêm lực lượng. Có lực lượng trong tay, ông cùng những đồng chí của mình tổ chức những trận đánh nhỏ lẻ để dằn mặt địch, hồi ấy chủ yếu là đánh bằng bom mìn, mục tiêu là bọn nghĩa quân, địa phương quân, dân vệ…
Có lần, ông cùng với hai người đồng chí tên Minh (sau này ông Minh làm Phó giám đốc Sở Nội vụ của tỉnh Thừa Thiên Huế - NV) và Hùng (nay sinh sống ở Vĩnh Hưởng - NV) đánh một trận chí mạng làm lực lượng địch ở địa bàn Phong An hoảng loạn.
Ông nhớ lại, hồi đó, ở vị trí cổng vào làng Phò Ninh quê ông, địch thành lập nên một cái chốt và bố trí ở đó một trung đội để canh chừng. Sau một thời gian điều nghiên quy luật hoạt động của địch, ông quyết định đánh. Hôm ấy là ngày 14 âm lịch nên trăng rất sáng. Tổ công tác của ông bí mật tiếp cận vị trí chiến đấu để đặt 1 quả mìn Claymo nằm chờ.
Khoảng 20 giờ 15 phút, cả trung đội địch bước ra đi tuần tra, ông Mãn lấy chân đá vào chân đồng chí Minh ra lệnh khai hỏa. Quả Claymo trước điểm phục kích địch vang lên một tiếng nổ chát chúa, tiếp đó ông Mãn rút chốt trái lựu đạn ném về phía địch, rồi nhanh chóng rút quân một cách an toàn. Trận đó, toàn trung đội địch có 28 tên thì chỉ còn 1 tên sống sót do lúc anh Minh điểm hỏa tên này đang ghé vào một ngôi nhà bên đường để uống nước.
Ông Hồ Xuân Mãn (người đội mũ thứ hai - từ phải sang) ở chiến khu Khe Trái.

Một lần khác, ông phát hiện thấy một trung đội địa phương quân của địch hàng ngày đóng chốt ở trên Động Hóc gần làng Phò Ninh. Qua theo dõi, ông đã nắm được hành trình tuần tra của chúng, sau mỗi lần đi tuần về thường là chúng bắt gà, bắt vịt của người dân trong làng mang lên Động Hóc để nướng ăn. Hồi đó là tháng 11 nên thời tiết rất lạnh, địch thường tận dụng việc nướng gà, vịt để cùng nhau ngồi sưởi ấm. Vậy là ông cùng với một đồng chí tên Công đi kiếm 1 quả pháo 155 ly, đục phần đầu để cài kíp mìn vào trong đó.
Lợi dụng thời điểm địch đi tuần tra, ông cùng với người đồng chí của mình đột nhập lên Động Hóc, bí mật đào lỗ ngay dưới đống tro mà địch hay đốt lửa để cài quả đạn, rồi ra ngoài trèo lên một ngọn cây để quan sát. Sau khi địch đi tuần tra về, đúng như nhận định của ông, chúng gom củi để đốt lửa sưởi ấm. Khi cả trung đội lính ngụy đang xúm lại bên đống lửa thì một tiếng nổ vang lên, khói và đất đá tung lên mù mịt. Lần ấy, cả trung đội 29 tên cũng chỉ còn 1 tên sống sót vì đang đi lấy củi từ xa.
Ông Mãn kể rằng, thời buổi đó anh em hầu như tuần nào cũng đánh vài trận, tuy rằng chỉ đánh nhỏ lẻ nhưng hiệu quả rất cao. Có những lần ông còn phối hợp cùng xã đội với 3 đồng chí đột nhập ban ngày vào khu tập trung để tiêu diệt những tên ác ôn khét tiếng làm cho bọn chúng hết sức hoang mang, lo sợ. Ngoài chuyện đánh để tiêu diệt sinh lực địch, ông Mãn còn cùng với anh em trong lực lượng của mình tổ chức tháo gỡ các loại mìn do địch gài dày đặc, nhất là loại mìn địch gài bằng điện gọi là mìn Căng - Chùng - Nổ, để phục kích cán bộ của ta vào ấp ban đêm. Hồi ấy, ông gỡ mìn thiện nghệ đến mức anh em trong đơn vị mệnh danh là "ông vua gỡ mìn".
Năm 1973, sau gần một tháng rời địa bàn để ra vùng Cồn Tiên - Quảng Trị dự Đại hội Chiến sĩ thi đua 18 về tổng kết công tác chống Mỹ. Khi trở về đến địa bàn huyện A Lưới, ông nhận được hung tin là hầu hết các cán bộ chủ chốt ở địa bàn đã hy sinh trong những trận phục kích của địch. Trong số đó có chị Hạnh - Huyện ủy viên, Bí thư xã Phong An; anh Đời - Bí thư xã Phong Sơn; anh Thuận - Xã đội trưởng Phong An; anh Đàm, anh Anh - du kích và nhiều đồng chí khác…
Về đến A Lưới hôm trước, thì hôm sau được ông Lê Tư Sơn - Bí thư huyện ủy, ông Luyện - Huyện đội trưởng, ông Phạm Văn Danh - Trưởng Công an huyện gọi ông đến để thông báo tình hình và đề nghị ông tìm mọi cách phải về xã Phong An để kết nối lại liên lạc chứ không thể để trống địa bàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phong trào. Ông Lê Tư Sơn vỗ vai ông nói: "Tình hình như vậy đó, bây giờ cháu có yêu cầu gì cháu cứ đề xuất từ chuyện con người đến vấn đề vũ khí…".
Sau khi thống nhất kế hoạch, ông xin 5 kg lương khô, 4 hộp đạn AK và chọn đồng chí Hùng vì anh này rất rành đường sá mà lại khá gan dạ. Ông Luyện đưa Trung đội trinh sát của anh Quyết, anh Thiều thuộc Huyện đội bố trí yểm trợ cho ông vượt tuyến. Sau khi vượt tuyến, ông được anh Châu giao liên dẫn đường để trở lại địa bàn. Khi chia tay ở địa bàn thôn Vĩnh Hưởng thì anh Châu không chịu quay về mà cứ nắm tay ông đứng khóc vì biết được rằng khả năng sống sót sau chuyến trở về này của ông là quá đỗi mong manh. Ông an ủi Châu rằng: "Đừng khóc, vì mày cứ khóc thế này tao đi không được, thôi thì Châu về, nếu đêm nào Châu không nghe mìn nổ vậy là tao còn sống…".
Ông Hồ Xuân Mãn tặng học bổng cho học sinh nghèo.

Chia tay với anh Châu, ông cùng đồng chí Hùng lần mò về Phò Ninh và quyết định náu mình dưới một bàu nước rất lớn để che mắt địch. Hồi ấy là tháng 5 nên trời rất nóng, cứ 5 giờ sáng hai anh em lội xuống bàu để lấy cỏ lác, cỏ lùm trùm lên người để ẩn nấp là bắt đầu bị đỉa tấn công. Ông kể, từ tai trở xuống đến chân chỗ nào cũng có đỉa bám. Chịu đựng vấn nạn đỉa đã khổ, nhưng cứ tầm 9 giờ trở về chiều khi trời nắng to, nước dưới bàu cũng nóng mới là cực hình. Phải đến sau 6 giờ chiều hai anh em mới mò lên khỏi mặt nước, lúc đó cơ thể của ai cũng tấy đỏ như màu sơn của những chiếc máy cày MTZ.
Thoát khỏi vị trí ẩn nấp bên bàu nước, ông quyết định tìm về trên cánh đồng mà theo nhận định của ông kiểu gì cũng sẽ gặp các gia đình cơ sở ra đó để sản xuất. Một hôm, khi đang nằm bên bờ ruộng gần đám khoai lang thì ông phát hiện một chị cơ sở tên là Nguyệt ra hái rau. Ông gọi tên thì chị này quay lại, khi chị Nguyệt nhận ra ông thì nét mặt chị tái đi, chị hốt hoảng thông báo cho ông biết địa bàn này bây giờ ở bất cứ nơi đâu cũng có địch dò xét nên vô cùng nguy hiểm. Ông động viên chị Nguyệt là "cô hãy yên tâm, vấn đề quan trọng là làm sao Nguyệt phải liên lạc được với chị Hoa - Chi ủy và chị Bơi - Bí thư chi bộ để thông báo là anh đang ở đây, bằng mọi giá ngày mai ra đây cho anh gặp và cố gắng mai cho anh xin một ít cơm…".
Hôm sau, chị Hoa, chị Bơi cải trang thành người đi làm ruộng để mang cơm ra cho ông, mới đến nơi, vừa vứt chiếc ấm nước bên trong có cơm với muối mè là các chị nói ngay: "Không được, không thể ở đây được vì địch xung quanh đây quá nhiều, ở đây trước sau gì cũng chết…". Thế rồi, ông chọn một lùm cây gai gần với cánh đồng sát quốc lộ 1A làm nơi ẩn náu để tìm thời cơ liên lạc gây dựng cơ sở. Qua gần một tháng ở trong lùm cây gai đó, hai người cứ lần mò bắt được liên lạc và củng cố cơ sở ở làng Phò Ninh, một số cơ sở ở làng Thượng An và một cơ sở ở làng Bồ Điền. Nhưng lúc đó, ông xuất hiện ở cơ sở nào cũng bị các đồng chí ở đó van nài, xua đuổi vì tình hình quá nguy hiểm cho ông…
Một hôm khi ông cùng cơ sở của mình ở làng Bồ Điền đang làm một căn hầm bí mật thì có một giao liên mang thư mật của Huyện ủy đến bảo rằng ông phải thu xếp để trở về hậu cứ báo cáo tình hình cho ông Lê Tư Sơn - Bí thư Huyện ủy. Ông nhấn mạnh: Vào thời kỳ chiến tranh ác liệt đó, cán bộ của ta ai đã về được đồng bằng là được xem như một lần thoát chết nhưng từ đồng bằng mà trở lại hậu cứ thì còn nan giải hơn rất nhiều lần. Nguy hiểm là thế nhưng mệnh lệnh là phải thi hành.
Trở về hậu cứ, ông gặp lại người đồng đội là Trần Văn Minh vừa đi học trường Đảng của tỉnh về. Từ đó, ông tập trung lực lượng, bổ sung thêm một số cán bộ có kinh nghiệm đánh địch để tạo dựng phong trào trở lại địa bàn các xã Phong An, Phong Sơn để vừa hoạt động vừa đánh địch. Những năm tháng đó, Hồ Xuân Mãn đã cùng với đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh "vô tiền khoáng hậu", đặc biệt có 2 vụ diệt 2 tên ác ôn khét tiếng mà Huyện ủy phát động nhiều năm chưa diệt được... Cứ thế, ông đã cùng đồng đội đánh địch cho đến ngày Huế được giải phóng 26/3/1975.
Sau ngày thống nhất, ông nhận nhiệm vụ mới là khai thác hồ sơ hậu chiến, rồi chuyển sang làm Đại đội phó - Đại đội tháo gỡ bom mìn để đưa dân trở về làng cũ. Năm 1976, tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sát nhập thành một đơn vị hành chính là tỉnh Bình Trị Thiên. Ông chuyển ngành và đi học Trường Nguyễn Ái Quốc, sau khi ra trường ông về làm Bí thư Huyện đoàn Phong Điền lúc ấy ông tròn 30 tuổi. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chánh Văn phòng Huyện ủy, Thường vụ huyện ủy - Trưởng ban Tuyên giáo, năm 1990 tham gia Tỉnh ủy với chức vụ Bí thư Huyện ủy Phong Điền, 1993 là Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy, năm 1995 là Phó bí thư Tỉnh ủy, năm 2000 là Bí thư Tỉnh ủy 2 nhiệm kỳ cho đến ngày nghỉ hưu.
Trong thời gian sau này, ông đã vinh dự được nhận thêm 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì và 1 Huân chương Chuyên án An ninh tôn giáo, 1 Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, 1 Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng 3 Huân chương gồm 1 Huân chương Hữu nghị, 1 Huân chương Itxala hạng 2, 1 Huân chương Lao động hạng 2. Năm 2010, xét thành tích cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Giờ đây, ông nghỉ ngơi sau nhiều thập niên đã cống hiến sức mình và kể cả một phần máu thịt cho quê hương, đất nước… ngày ngày ông vui vầy bên bè bạn, cháu con. Đôi ba bữa ông lại trở về ngôi nhà cũ ở làng Phò Ninh để hương khói cho tổ tiên, ông bà, chăm sóc cây kiểng, hàn huyên với bạn bè, đồng đội cũ. Ông bảo rằng, ở đời làm người có danh phận cũng lắm thị phi, nhưng mình phải rộng lòng hỉ xả, bởi vì với những hạng người vô tâm hèn hạ thì họ vẫn đáng thương nhiều hơn là đáng trách…

  Phan Bùi Bảo Thy


Gửi anh Điều 43. Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” để anh nghiên cứu so sánh với bản thành tích của anh Mãn để anh viết bài cho công luận yên tâm, tin tưởng rằng anh Mãn xứng đáng là một anh hùng để nhân dân noi gương, học tập.

Khi dân đã tin thì cả ngàn bài báo đã kích, bôi nhọ... cũng không có giá trị gì cả...dân đã tin là dân bảo vệ...không có dân bảo vệ làm gì còn một Hồ Xuân Mãn Ủy viên trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy... Anh Mãn nói nhiều lần và thực tế là như vậy.
Khi dân không còn niềm tin thì những bài viết của anh trở thành lạc lẽo...

Luật Thi đua, Khen thưởng

Điều 60
1. Danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân" để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có đạo đức, phẩm chất cách mạng.



Nghị định Số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng:

Điều 43. Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”

1. Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có hành động anh hùng, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; có phẩm chất đạo đức cách mạng, là tấm gương mẫu mực về mọi mặt, đạt được các tiêu chuẩn sau:
a) Dũng cảm, mưu trí, hy sinh quên mình, đạt được thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, huấn luyện, trong giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, được Binh chủng, Quân chủng, Quân đoàn hoặc Quân khu tôn vinh, học tập;
b) Say mê nghiên cứu, có sáng kiến cải tiến hoặc giải pháp có giá trị; có công trình nghiên cứu có giá trị đặc biệt, được ứng dụng vào thực tiễn hoạt động quân sự, an ninh hoặc kinh tế, xã hội đem lại hiệu quả thiết thực; 
c) Có trình độ kỹ thuật, chiến thuật giỏi, chuyên môn, nghiệp vụ thành thạo; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ; có công lớn trong việc bồi dưỡng về kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn, nghiệp vụ cho đồng đội; 
d) Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh, có tác phong làm việc khoa học, kiên định lập trường trước mọi hy sinh, thử thách; nêu cao tinh thần đoàn kết, hợp tác, tương trợ, đoàn kết quân dân, là hạt nhân xây dựng sự đoàn kết, nhất trí trong tập thể;
đ) Đã được tặng thưởng “Huân chương Chiến công” hạng nhất hoặc “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng nhất (trừ trường hợp lập được thành tích đột xuất).
2. Tập thể có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là tấm gương mẫu mực về mọi mặt, đạt được các tiêu chuẩn sau:
a) Dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, là ngọn cờ tiêu biểu trong phong trào thi đua quyết thắng (đối với quân đội) hoặc phong trào thi đua thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, phong trào vì an ninh Tổ quốc (đối với Công an nhân dân), có nhiều đóng góp vào sự phát triển của ngành;
b) Dẫn đầu toàn quân trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đổi mới phương pháp lãnh đạo, chỉ huy, lập nhiều thành tích trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới phục vụ chiến đấu, huấn luyện và công tác; 
c) Dẫn đầu trong việc bồi dưỡng, đào tạo về kỹ thuật, chiến thuật, về chuyên môn, nghiệp vụ và chính trị cho cán bộ, chiến sỹ; quản lý tốt vũ khí và cơ sở vật chất kỹ thuật, an toàn tuyệt đối về người và tài sản; 
d) Dẫn đầu trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu chấp hành kỷ luật, điều lệnh, điều lệ của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nêu cao tinh thần đoàn kết nội bộ, hợp tác, giúp đỡ và đoàn kết nhân dân, chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; 
đ) Tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, tổ chức chính quyền, đoàn thể vững mạnh toàn diện; tích cực gương mẫu tham gia các phong trào ở địa phương nơi đóng quân, được chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương tin yêu; 
e) Đã được tặng thưởng “Huân chương Chiến công” hạng nhất hoặc “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng nhất (trừ trường hợp lập được thành tích đột xuất).
Theo luật Thi đua - Khen thưởng

"Mãn được tặng thêm 8 Huân chương, trong đó có 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì và 1 Huân chương chuyên án an ninh tôn giáo, 1 Huân chương Đại Đoàn Kết dân tộc, 1 Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 1 Huân chương Hữu nghị, 1 Huân chương Itxala."

Nhưng luật chỉ cần 01 (một) “Huân chương Chiến công” hạng nhất hoặc “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng nhất là đủ điều kiện "cần" về mặt thủ tục .

: Thì đủ thu tục tiếp tục đề nghị xét thành tích để công nhận danh hiệu AHLLVTND.
Không có: không xét, bí thư hay ai cũng vậy, bí thư càng phải làm gương không có ngoại lệ.

*Cố tình làm trái luật, là bằng chứng của việc chạy AHLLVTND đây! đây nì...

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Trận cầu lịch sử: ĐÀ NẵNG - THỪA THIÊN HUẾ

Bàn thắng lớn nhất của “ngôi sao” Nguyễn Bá Thanh

Sự kỳ vọng ở những “trận cầu ông Thanh” là bởi, những trận cầu đó bao giờ cũng có những bàn thắng, những quyết sách, những việc làm đi kèm. Và thắng lợi, rất phổ biến là dành cho người dân.

Hồi đầu năm 2007, sân Chi Lăng diễn ra một trận cầu đặc biệt: Trận cầu từ thiện giữa hai đội Đà Nẵng, do “ngôi sao” khoác áo số 9 Nguyễn Bá Thanh- đương kim Bí thư Thành ủy làm đội trưởng và đội Thừa Thiên-Huế- do “cầu thủ” Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Thiện làm đội trưởng.

Không rõ là “ngôi sao số 9" có ghi bàn trên sân cỏ trong tỉ số gần như của một ván tennis (4-3) mà phần thắng đương nhiên thuộc về chủ nhà, nhưng ông đã ghi những bàn thắng lớn nhất: 10 ngàn người, 10 ngàn fan hâm mộ đã đến sân, trong thời tiết “lất phất mưa và se lạnh”. 17.000 vé với giá 100.000 đồng được 10.000 cổ động viên mua hết veo. 6 tỉ đồng, và thêm bao nhiêu tiền tài trợ đã được dành để ủng hộ đồng bào 3 tỉnh Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế và Quảng Nam vừa bị thiệt hại nặng nề trong cơn bão số 6.

Không ngẫu nhiên sau đó, cổ động viên của SHB Đà Nẵng mang ảnh ông Thanh với kích cỡ bằng 4 chiếc chiếu tới sân, mỗi khi cổ vũ cho đội nhà.

Ông Nguyễn Bá Thanh trong một trận đấu. Ảnh: Internet
Ông Nguyễn Bá Thanh trong một trận đấu. Ảnh: Internet

Một cách lý tính, sự lựa chọn cảm tính của giới fan túc cầu chưa bao giờ sai khi dành tình yêu cho trái bóng, cho một “số 9” nào đó.

Đà Nẵng là một bàn thắng “để đời” của ông Thanh. Bởi Đà Nẵng là Nguyễn Bá Thanh, và ngược lại. Bởi, dù có nhiều ý kiến này khác, sự ngưỡng mộ của người Đà Nẵng với ông là một thứ tình cảm mang tính phổ biến. Không ngẫu nhiên, Đà Nẵng trở thành “thành phố đáng sống nhất Việt Nam”, vị trí số một về môi trường kinh doanh của cả nước.

“Hội chứng Nguyễn Bá Thanh” thậm chí còn tạo ra sự chờ đợi trong háo hức đối với người dân, cũng như giới truyền thông mỗi khi ông đăng đàn. Bởi ở đó, thứ “bóng đá” ông chơi không bao giờ là những bài phát biểu soạn sẵn, chán ngắt, dài lê thê. Bởi ở đó là ngắn gọn, thẳng thắn, quyết liệt và “đánh thẳng vào trung lộ”.

4 tháng trước, trong buổi nói chuyện với những người dân làng phong Hòa Vân, ông Thanh khẳng định cá tính của mình: “Tôi nói là làm, không có chuyện chạy làng”. Trước đầy đủ complet càvạt ban bệ của thành phố, ông cũng là người đầu tiên nói tới “văn hóa xấu hổ” trước tình trạng cán bộ “hứa hẹn nhiều nhưng làm chẳng bao nhiêu”.

Sự kỳ vọng ở những “trận cầu ông Thanh” là bởi, những trận cầu đó bao giờ cũng có những bàn thắng, những quyết sách, những việc làm đi kèm. Và thắng lợi, rất phổ biến là dành cho người dân.

Giờ đây, khi “ra Hà Nội”, ông Thanh - trên “sân Mỹ Đình” chứ không phải “sân Chi Lăng” - đang đứng trước trận cầu lớn nhất của đời mình, nơi mà đối thủ của ông sẽ là những vụ án tham nhũng trọng điểm, liên quan đến những “bộ phận không nhỏ”, những “nhóm lợi ích”  - nơi mà ông chỉ có thể đá hoặc thổi còi.

Trận đấu ở “Mỹ Đình” tuyệt đối không phải là một trận cầu giao hữu, từ thiện.

Nhưng những cổ động viên “sân Chi Lăng”, những cổ động viên “sân Mỹ Đình” đang chờ bàn thắng lớn nhất của “ngôi sao” số 9 - niềm hy vọng của họ.

Theo Đào Tuấn
Lao động




Nì...Thanh đá banh và lãnh đạo điều hành thì "mệ" thua...
Nhưng chú mi có anh hùng như "mệ" khôn?
Thi đua có bằng "mệ" khôn?



Ai vinh dự hơn ai?


(Dân trí) 

Bí thư Tỉnh ủy Hồ Xuân Mãn  được danh hiệu AHLLVTND do Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phong tặng.

.
Bí thư Tỉnh ủy TT-Huế nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang

385 đại biểu chính thức tại đại hội là những gương mặt tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh giai đoạn 2006-2010.

Từ năm 2006 đến nay, toàn tỉnh có:
3 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì, 
30 Huân chương Độc lập các hạng, 
159 Huân chương Lao động các hạng, 
161 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 
38 Cờ Thi đua của Chính phủ, 
14 cá nhân được công nhận danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc.

Đảng bộ, Chính quyền được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất. Hiện tỉnh đang đề nghị tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

Bí thư Mãn cũng là một trong ba Bí thư Tỉnh ủy được Ban chỉ đạo Vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tuyên dương tại hội nghị toàn quốc nhân sơ kết 3 năm thực hiện cuộc vận động.

"Mệ Mãn" cũng được điều đi làm trợ lý Thủ Tướng nhưng đang chờ quyết định ...

Đại Dương


Nguễn Bá Thanh

Khi Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường Nguyễn Điểu thông báo Đà Nẵng nằm trong top 20 thành phố "sạch nhất thế giới", ông Nguyễn Bá Thanh thẳng thắn chê: "Chắc mấy ổng không đi vào cái chỗ mà hôm trước tôi với anh Huy (ông Trần Văn Huy, Bí thư quận uỷ Thanh Khê) lội vô ở gần ven sân bay. Mấy ổng tới đó chắc không chấm điểm Đà Nẵng đâu. Đô thị chi rứa mà là đô thị, ăn ở mất vệ sinh, rác vất tùm lum ra như thế".
Rồi ông khuyến khích: "Dù muốn hay không thì họ cũng công bố rồi. Mình lỡ bị công bố nên phải làm cho tốt hơn, chứ làm không đạt là mang tiếng"

Thế Lực ngầm và tài năng lãnh đạo ở Thừa Thiên Huế

Bắt “đại gia” khét tiếng đất cố đô 

Thứ năm, 11/10/2012 09:24
(CATP) Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ Công an phối hợp với Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế trưa ngày 8-10 đã bắt khẩn cấp ông Huỳnh Tăng Hùng (Hùng “dinh”, 61 tuổi, trú 48 Trần Văn Ơn, tổ 12, phường Xuân Phú, TP. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế) và con trai Huỳnh Tăng Quang (42 tuổi, trú 153 Bà Triệu, phường Xuân Phú) cùng về hành vi đánh bạc. Cha con ông Hùng trong thời gian dài đã tổ chức đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá qua mạng. 
Công an đã khám xét nhà riêng của ông Hùng, ông Quang và thu giữ két sắt, máy vi tính cùng nhiều tài liệu liên quan đến hành vi đánh bạc. 
Hùng “dinh” là một “đại gia” kinh doanh bất động sản, hoạt động nhà hàng, khách sạn tại Huế; rất nổi tiếng trong giới giang hồ. Dư luận cũng đang bàn tán về mối quan hệ rộng lớn, thân thiết của ông Hùng với một số cán bộ địa phương. Việc bắt cha con Hùng “dinh” được thực hiện sau một tuần Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế có giám đốc mới là đại tá Mai Văn Hà thay thiếu tướng Nguyễn Thanh Toàn nghỉ hưu. 
VĂN QUÂN

(Theo Công an TPHCM)
CA PHÁ ÁN 

THÔNG TIN TIẾP THEO VỤ HÙNG “DINH” Ở HUẾ: BẮT 6 ĐỐI TƯỢNG TRONG ĐƯỜNG DÂY CÁ ĐỘ BÓNG ĐÁ 

(Cadn.com.vn) - Sau khi bắt cha con Hùng “dinh” về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức cá độ bóng đá qua mạng xuyên quốc gia, mở rộng đấu tranh án, chiều tối 26-11, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (CSĐTTPVMT - Bộ CA) phối hợp với Phòng CSĐTTPVMT CA tỉnh TT-Huế bắt và khám xét nhà ở của 6 đối tượng liên quan gồm: Võ Linh Nghiệm (1971, trú 12-Nguyễn Thái Học), Nguyễn Thịnh (1977, trú 80-Nguyễn Lộ Trạch), Huỳnh Hoàng Anh (trú 23 kiệt 110-Kim Long), Trần Thị Diễm Thúy (1966, trú 117-Hùng Vương), Huỳnh Công Phong (1983, trú 149/30-Phan Đình Phùng) và Hồ Công Danh (1975, trú 35-Cửa Trài, đều TP Huế, TT-Huế). Các đối tượng này đều là “đại lý” tỷ số trong đường dây cá độ bóng đá qua mạng của cha con Hùng “dinh” hoạt động trong thời gian dài, gây bức xúc dư luận.
Như Báo đã đưa tin, chiều 8-10-2012, tại TP Huế, Cục CSĐTTPVMT (Bộ CA) phối hợp với Phòng CSĐTTPVMT CA tỉnh TT-Huế tiến hành bắt khẩn cấp cha con Huỳnh Tăng Hùng (Hùng “dinh”, 1951, trú 48-Trần Văn Ơn) và Huỳnh Tăng Quang (1970, trú 153-Bà Triệu, đều P. Xuân Phú, TP Huế) về hành vi “Đánh bạc”. Trong một thời gian dài, Hùng và Quang tham gia đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá qua mạng công nghệ cao với thủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp. Hùng “dinh” nổi tiếng không chỉ ở Huế mà còn ở các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Đà Nẵng..., được nhiều người biết đến là tay chuyên kinh doanh khách sạn, mua bán bất động sản và được xếp vào hạng “đại gia” ở TT-Huế. sau khi cơ quan CSĐT Bộ CA bắt cha con Hùng “dinh” về hành vi “Đánh bạc”, người dân đã phần nào hiểu được sự giàu có của cha con Hùng “dinh” là bất chính. Sau khi bắt Hùng và Quang, cơ quan CSĐT của Bộ CA đã tiến hành khám xét nhà ở của 2 đối tượng, thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến hành vi cá độ bóng đá. Và, ngay sau đó 2 đối tượng được di lý ra Hà Nội để tiếp tục điều tra, đấu tranh mở rộng án.

Võ Linh Nghiệm, Huỳnh Hoàng Anh, Trần Thị Diễm Thúy, Huỳnh Công Phong, Hồ Công Danh và Nguyễn Thịnh. 

Cũng ngay sau khi bắt cha con Hùng “dinh”, Cục CSĐTTPVMT phối hợp với Phòng CSĐTTPVMT CA tỉnh TT-Huế biết được dưới “trướng” của cha con Hùng còn có một số chân rết đang hoạt động với thủ đoạn tinh vi, núp bóng dưới việc kinh doanh quán cà-phê, khách sạn... Việc tham gia ghi tỷ số bóng đá qua mạng ở Huế trong thời gian dài đã khiến nhiều người phải tự vẫn, nhiều gia đình ly tán và dư luận rất bức xúc. Với quyết tâm sớm đưa các đối tượng còn lại ra trước ánh sáng pháp luật, lực lượng CA đã kiên trì xác minh, thu thập tài liệu, củng cố hồ sơ. Sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, tối 26-11, hàng chục CBCS của Bộ CA và CA tỉnh TT-Huế đã đồng loạt triển khai bắt giữ các đối tượng: Nguyễn Thịnh, Huỳnh Hoàng Anh, Huỳnh Công Phong, Trần Thị Diễm Thúy, Hồ Công Danh và Võ Linh Nghiệm về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức cá độ bóng đá qua mạng. Đặc điểm chung phải kể đến 6 “đại lý” tỷ số của cha con Hùng “dinh” đều rất giàu có. Đối tượng Võ Linh Nghiệm hiện đang sở hữu khách sạn Nhật Tường tọa lạc trên khu đất vàng 12-Nguyễn Thái Học (TP Huế). Còn Nguyễn Thịnh dù tổ chức cá độ bóng đá qua mạng đã nhiều năm nhưng rất khó để phát hiện, bởi Thịnh mở một quán cà-phê bình dân để làm vỏ bọc. Ngoài ra, Thịnh còn có khách sạn tại số 206 đường Ngự Bình (TP Huế) - đây cũng chính là nơi y sử dụng để giao dịch với các con bạc.

Khách sạn Nhật Tường do Nghiệm làm chủ và khách sạn 206-Ngự Bình của Thịnh. 

Cũng vì ghi tỷ số bóng đá qua mạng thu lợi nhuận cao, Huỳnh Hoàng Anh từ một công nhân lương thiện, đã chuyển qua nghề đánh bạc từ nhiều năm nay và trở thành một trong những “đại lý” tỷ số của Huỳnh Tăng Quang. Trong 6 đối tượng bị cơ quan CA bắt giữ, phải kể đến là Hồ Công Danh. Danh được giới ăn chơi ở Huế gọi bằng “đại ca” và có rất nhiều băng nhóm ở Huế do y quản lý. Hiện, Danh đang có một quán bar MTV trên đường Nguyễn Thái Học. Danh cũng là đối tượng từng vào tù về tội “Cố ý gây thương tích” trong một lần chỉ đạo “đàn em” đi trên 2 taxi thanh toán với một băng nhóm giang hồ. Trong 6 đối tượng bị bắt về hành vi “Đánh bạc”, điều khiến dư luận bất ngờ là trong đó có một đối tượng nữ - Trần Thị Diễm Thúy. Trước đây, Thúy buôn bán như bao người phụ nữ khác, nhưng từ khi nghe một số người quen rỉ tai, ghi tỷ số bóng đá qua mạng sẽ nhanh giàu có nên Thúy từ bỏ nghề buôn bán, tham gia hình thức đánh bạc này. Nhiều người dân sống gần nhà Thúy rất khó hiểu khi Thúy không có nghề nghiệp nhưng cuộc sống gia đình rất vương giả, sung túc. Tương tự, Huỳnh Công Phong dù là thanh niên có sức khỏe nhưng không có nghề nghiệp, trong khi đó cuộc sống lại rất giàu có... 
Ngay sau khi bắt các đối tượng, cơ quan CA cũng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến việc cá độ bóng đá qua mạng. Tiến hành hoàn tất các thủ tục ban đầu, ngay trong đêm, 6 đối tượng đã được di lý ra Hà Nội để tiếp tục đấu tranh làm rõ. 
Hải Lan 

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Từ thực tiễn Hồ Xuân Mãn: suy nghĩ về người đứng đầu


"Không làm được thì nên từ chức"

Người đứng đầu là ai? Người đứng đầu cần có những tố chất gì? Thẩm quyển, trách nhiệm của người đứng đầu là như thế nào, xét cả về cấp ủy và chính quyền? Mối quan hệ giữa người đứng đầu cấp ủy với chính quyền như thế nào, được biểu hiện ra sao?...
Chế độ lãnh đạo tập thể khác về bản chất với chế độ lãnh đạo cá nhân, bởi một bên quyền lãnh đạo tập trung vào tập thể còn bên khác là tập trung vào cá nhân, một người quyết định tất cả.
Chế độ lãnh đạo tập thể bao giờ cũng bao gồm trong nó nội hàm cá nhân phụ trách, theo đó, mỗi cá nhân trong tập thể lãnh đạo đều được phân công, phân nhiệm rõ ràng và quyền hạn luôn đi liền với trách nhiệm. Cùng với cơ chế lãnh đạo tập thể áp dụng nhất quán trong hệ thống cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương và cơ sở, còn có cơ chế thủ trưởng, áp dụng chủ yếu trong các hệ thống chính quyền các cấp. 
Nhưng dù là cơ chế lãnh đạo nào thì người đứng đầu cấp ủy, chính quyền đều có vai trò quan trọng. Người đứng đầu phải có được những năng lực và phẩm chất cần thiết tương xứng với vai trò và trách nhiệm được giao, đó là năng lực dẫn dắt, tổ chức và điều hành công việc để tập thể phát huy được sức mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ; có khả năng đoàn kết, tập hợp để mọi thành viên gắn bó thành một khối, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phải có phong cách làm việc dân chủ, biết lắng nghe, tôn trọng những ý kiến, cả những ý kiến trái chiều với ý kiến của mình…
Đồng thời, phải tiên phong trong hành động, gương mẫu về phẩm chất và đạo đức, giữ gìn lối sống trong sạch, giản dị; nói đi đôi với làm và làm nhiều, làm tốt hơn nói để mọi người noi theo, đặc biệt là làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương trong mọi việc làm, nhất là trong ứng xử với nhân dân; nêu cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Các cấp ủy Đảng tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo, chỉ đạo, gắn việc thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW với việc thực hiện Nghị quyết TW4 (Khóa XI), trong đó tăng cường hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu các cấp ủy, các cơ quan, đơn vị.
Một bài học xưa về chữ tín:
Quân thần bất tín quốc bất an, Phụ tử bất tín gia bất mục. Huynh đệ bất tín tình bất thân, Bằng hữu bất tín giao dịch sơ.
Biện pháp
Việc lấy phiếu tín nhiệm là biện pháp đề cao trách nhiệm cán bộ, của cả cấp dưới và cấp trên, của tập thể và cá nhân người đứng đầu.

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

"Thượng bất chính, hạ tắc loạn"

Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo làm công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, ngay từ ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đó là: Cần. Kiệm, Liêm Chính, Chí công vô tư.

Người cón giải thích rõ:


- Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, tự lực cánh sinh, lao động có kế hoạch, sáng tạo và có năng suất cao. Phải thấy rõ "Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta"

- Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của, của dân, của nước, của bản thân mình, phải biết tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to "không xa xỉ, không hoàng phí không bữa bãi". 

- Liêm "Luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công, của dân" liêm khiết trong mọi hoàn cảnh, không tham lam "Không tham địa vị. không tham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình".

- Chính: nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn, đối với mình đối với người và đối với việc. Việc thiện thì nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh". 

- Chí công vô tư: "Khi làm bất cứ việc gì, cũng đừng nghĩ đến mình trước khi hưởng thụ thì mình nên đi sau". "Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ...". (Hồ Chí Minh toàn tập (5) trang 230-249; Hồ Chí Minh toàn tập (7) trang 256-257...).


Đó là những phẩm chất đạo đức cách mạng mà suốt đời Hồ Chí Minh hằng nhắc nhở, đôn đốc cán bộ, đảng viên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện đề có đủ nhân cách phục vụ Tố quốc, phục vụ nhân dân... Trước tình hình một số cán bộ, đảng viên đạo đức đang bị thoái hóa, không còn Liêm, Chính, Chí công vô tư, trước công cuộc cách mạng xây dựng đất nước, xây dựng một xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh, câu thành ngữ "Thượng bất chính. hạ tắc loạn" vẫn như lời cảnh tỉnh về một chân lý tuyệt đối cho những người có vai vế là trụ cột trong gia đình, cho những người có trọng trách trước Đảng, trước dân...


Cũng anh hùng lắm chứ?

Những dấu ấn độc đáo của phong trào đô thị Huế

11:14 | 03/07/2012
LÊ VĂN LÂN

Hằng năm cứ vào dịp 9/1 (ngày sinh viên học sinh), ngày 26/3 (ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và giải phóng Huế), những người hoạt động trong phong trào (người ta thường gọi là “dân phong trào”) lại họp mặt tưởng nhớ những người hi sinh, ôn lại truyền thống, chia sẻ những trăn trở trước thời cuộc và tự dặn mình phải sống xứng đáng với những người đã khuất, những đùm bọc thương yêu mà nhân dân đã dành cho mình.

Hãy cùng bay lên - Tranh bút sắt Bửu Chỉ

Phong trào đô thị gắn với các tầng lớp nhân sĩ, trí thức, tôn giáo, các công thương gia, sinh viên học sinh, chị em tiểu thương... mà đi liền với nó là những cuộc bãi khóa, xuống đường, những đêm không ngủ... đến những buổi hát cho đồng bào tôi nghe, hát cho dân tôi nghe, phong trào đòi thi hành hiệp định Genever, hiệp định Paris đến phong trào cứu đói, phong trào đòi dân sinh dân chủ.... Tất nhiên hiểu đúng phong trào đô thị là điều không dễ dàng. Đó đây cũng đã có nhiều nỗ lực nhằm dựng lại phong trào đô thị: Anh Tần Hoài Dạ Vũ và anh Nguyễn Đông Nhật với tác phẩm phác thảo “Chân dung một thế hệ”. Anh Trần Thức, Hoàng Dũng, Bửu Nam, Ngô Thời Đôn với tác phẩm “Viết trên đường tranh đấu”. Thành đoàn Huế với ấn phẩm “Những sự kiện lịch sử trong phong trào đấu tranh đô thị của thanh niên sinh viên học sinh Huế 1954-1975”. Tổng đoàn học sinh Đà Nẵng với ấn phẩm “Chúng tôi có một thời như thế”. Cùng nhiều hồi kí của các anh mội thời là nhân vật chủ chốt phong trào: Lê Phương Thảo, Nguyễn Đắc Xuân, Võ Quê... Chúng tôi được biết Thành ủy Huế đã có chủ trương viết lại phong trào đô thị Huế đầy đủ hơn. Đây là việc làm hết sức cần thiết không chỉ hôm qua, hôm nay mà còn cả cho ngày mai.

Tranh bút sắt Bửu Chỉ

Chiều sâu của phong trào đô thị

Khi nói phong trào đô thị người ta thường nghĩ đến phong trào yêu nước trong các đô thị miền Nam, là tầng lớp nhân sĩ trí thức, tôn giáo mà ngòi pháo xung kích là thanh niên, sinh viên học sinh... Đỉnh cao của phong trào là những năm 1970, 1971 đến năm 1975, khi mà sinh viên toàn miền Nam họp đại hội (1971) ra tuyên bố ủng hộ lập trường 7 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị Paris, khi mà những chiếc xe Mỹ lần lượt bị đốt công khai trên đường phố, khi mà phong trào “bỏ ngũ - phản chiến - binh biến - khởi nghĩa” đã trở thành phong trào hành động trong quân đội Sài Gòn.

Đối với Huế, phong trào đô thị có nguồn gốc sâu xa của nó. Chúng ta đều biết: Ngay sau hiệp định Genever được kí kết, những người trí thức sinh viên học sinh Huế như giáo sư Tôn Thất Dương Kị, kĩ sư Nguyễn Hữu Đính, giáo sư Cao Xuân Lữ, giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, cùng các nhân sĩ như Võ Đình Cường, Đoàn Văn Long, Lê Quang Vịnh… đã dấy lên phong trào đòi hòa bình, đòi thi hành hiệp định Genever. Nếu ở thời điểm đó ngụy quyền Sài Gòn ra sức xuyên tạc hiệp định, cơ quan công sở của chúng treo cờ rủ 3 ngày, xem ngày 20/7/1954 là ngày quốc hận, ngày nước Việt Nam bị chia cắt thì ngược lại phong trào hòa bình phát động các tầng lớp nhân dân tổ chức ăn mừng hòa bình, tổ chức biểu tình hàng vạn người hoan hô hiệp định, in ấn và phổ biến hiệp đinh Genever, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị với khẩu hiệu dân sinh dân chủ, đòi tổng tuyển cử, đòi đắp đập Thuận An, đòi lập quan hệ bình thường hai miền Nam - Bắc. Cơ quan ngôn luận của phong trào là tập văn Ngày Mai (xem thêm Sông Hương số 275, 1/2012). Chúng ta đều biết trước đó 1947, 1948 ở Huế đã hình thành một chi bộ hết sức đặc sắc trong công tác xây dựng Đảng: chi bộ trí thức. Chi bộ mà nhiều người nói vui là “chi bộ sa-lông”, chi bộ “bơ sữa” và nói như đồng chí Trần Hân, nguyên Bí thư Thị ủy Huế “nói bơ sữa là nói tầng lớp trên, người dân làm gì có bơ sữa để ăn”. Chính những người trong chi bộ trí thức là nòng cốt phong trào này.

"Ngợi bình minh" - tranh Bửu Chỉ

Xa hơn, phong trào đô thị không thể không kể đến những sôi sục khí thế của những ngày Cách mạng tháng Tám. Việc cựu hoàng Bảo Đại thoái vị lẽ nào không có tác động khi giới nho sĩ, trí thức, binh lính kể cả những người trong hoàng tộc ngả về với cách mạng, với phong trào xếp bút nghiên lên đường kháng chiến, phong trào Nam tiến... Phong trào sôi động với các cuộc vân động cứu đói, học chữ quốc ngữ. Huy động sức người, sức của cho kháng chiến với tuần lễ đồng, tuần lễ vàng mà tiêu biểu là Trường Thanh niên tiền tuyến.
Trong bề dày truyền thống lịch sử văn hóa Huế, Huế là nơi hội tụ nho sĩ, trí thức, tinh hoa của dân tộc. Quá trình xây dựng và phát triển Huế, cũng dần xuất hiện phong trào đô thị. Năm 1908 nổ ra phong trào chống thuế của nông dân Thừa Thiên - Huế, đông đảo thanh niên học sinh Huế đã là ngòi pháo xung kích của phong trào mà tiêu biểu là anh Nguyễn Sinh Cung, tức Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếp đó là các phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, đòi để tang cụ Phan Chu Trinh, cao trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương 1936-1939 mà tiêu biểu là phong trào học sinh của hai trường Quốc Học và Đồng Khánh. Nhiều học sinh qua phong trào đã trưởng thành và trở thành những cán bộ chủ chốt của Đảng, của quân đội trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước.

Và xa hơn nữa, trong ngày Thất thủ kinh Đô 1885, sĩ tử cả nước về Huế dự thi đã phá trường thi bày tỏ thái độ của mình trước việc xâm lược của Pháp.

Lượt điểm qua các sự kiện như vậy để thấy phong trào đô thị Huế với sự lẫy lừng của nó, có nguồn gốc sâu xa, có truyền thống, tất cả làm nên sự khác biệt của nó với phong trào đô thị trên cả nước.

Phong trào đô thị Huế - những sự kiện lẫy lừng

Trong phong trào đấu tranh ở các đô thị miền Nam, Phong trào đô thị Huế đã tạo nên những sự kiện lẫy lừng với những dấu ấn đặc sắc có thể nói không nơi nào có thể làm được, đóng góp tích cực vào thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trong cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, một sự kiện chấn động chính trường miền nam thời bấy giờ là việc chính quyền Diệm cách chức Viện trưởng Viện Đại học Huế - linh mục Cao Văn Luận vì ủng hộ cuộc đấu tranh chống độc tài và đưa giáo sư Trần Hữu Thế, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, nguyên đại sứ Việt Nam cộng hòa tại Philippines ra làm Viện trưởng. Tại buổi lễ bàn giao, bác sĩ Lê Khắc Quyến, Khoa trưởng Đại học Y khoa Huế đã đứng dậy phản đối và tuyên bố từ chức. Hưởng ứng thái độ quyết liệt của bác sĩ Lê Khắc Quyến, khoa trưởng các trường Luật khoa, Khoa học, Văn khoa, Sư phạm, toàn thể giáo sư Đại học Huế, Viện Hán học đều đồng loạt từ chức, sinh viên Huế bãi khóa nghỉ học. Giáo sư Trần Hữu Thế cũng như chính quyền Diệm ngỡ ngàng sửng sốt trước phong trào bất hợp tác ngày càng lan rộng, guồng máy ngụy quyền tê liệt báo hiệu sự sụp đổ. Khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, phong trào đô thị tiếp tục phát triển với việc ra đời Hội đồng Nhân dân cứu quốc, chính bác sĩ Lê Khắc Quyến được cử làm Chủ tịch. Hội đồng đã ra thông báo buộc tập đoàn cần lao, mật vụ phải đến trình diện và tự thú trong vòng nửa tháng từ 14 tháng 9 đến 30 tháng 9 năm 1964. Đảng Cần lao nhân vị, bộ máy công an mật vụ bị trấn áp và tê liệt.

Bức ảnh được nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ tìm thấy trong thùng đựng ảnh cũ của gia đình

Có lẽ lần đầu tiên trên thế giới, một tòa lãnh sứ Mỹ bị đốt, một cơ quan thông tin văn hóa của Mỹ bị đập phá. Sự kiện nóng bỏng này diễn ra ở Huế giữa lúc Mỹ thay đổi chiến lược đối với Việt Nam từ Chiến tranh Đặc biệt sang Chiến tranh Cục bộ với việc đổ quân ồ ạt vào miền Nam Việt Nam.

Trong cách mạng miền Nam, có một sự kiện cách mạng độc đáo và duy nhất. Đó là năm 1965, ba nhân sĩ trí thức yêu nước hiên ngang qua sông Bến Hải ra Bắc và được tiễn đưa bằng một cuộc mitting của ngụy quyền đầy hằn học và căm giận trước phong trào hòa bình ngày càng lan rộng. Một trong ba nhân sĩ, trí thức đó là giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ - một nhà giáo uy tín và đáng kính ở Huế, là nòng cốt của chi bộ trí thức Huế những năm 1947-1948; là nhân vật chủ chốt của phong trào hòa bình những năm 1954-1956 và tập văn Ngày Mai.

Nói đến cách mạng miền Nam không thể không nói việc li khai của Huế. Ba tháng trời chính quyền nằm trong phong trào đô thị, với chiến đoàn Nguyễn Đại Thức li khai gồm sĩ quan và binh lính của sư đoàn 1 bộ binh (ngụy) mà nhà giáo Ngô Kha làm chiến đoàn trưởng, với đoàn sinh viên quyết tử mà anh Nguyễn Đắc Xuân làm đoàn trưởng. Khi Hiệp định Paris vừa kí kết địch đã thủ tiêu anh Ngô Kha. Anh đã được truy tặng liệt sĩ. Thành phố Huế ghi nhận những cống hiến lớn lao của anh Ngô Kha đã đặt tên anh cho một con đường, một trường học. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã vận động thành lập học bổng “Ngô Kha” để động viên tuổi trẻ học đường hăng hái học tập để ngày mai cống hiến cho đất nước.

Sinh viên Ngô Văn Bằng đọc kiến nghị bên cạnh giáo sư Nguyễn Hữu Trí.

Nói đến phong trào đô thị Huế không thể không nói đến cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 của quân và dân ta với 26 ngày đêm làm chủ thành phố Huế. Thắng lợi quan trọng này buộc địch phải ngồi vào bàn đàm phán Paris, buộc địch phải thay đổi chiến lược từ Chiến tranh Cục bộ sang Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Việc ra đời Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình thành phố (chỉ ở Huế và TP Hồ Chí Minh) đánh dấu một mốc mới trong cách mạng miền Nam. Nhiều nhân sĩ trí thức Huế tiêu biểu, có ảnh hưởng lớn trong chính giới cũng như trong nhân dân đã tham gia Liên minh như hòa thượng Thích Đôn Hậu, bà Nguyễn Đình Chi, cụ Nguyễn Đóa, giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm... Sau này họ đều là nòng cốt trong Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Những năm 1970-1971, phong trào đô thị Huế lên đến đỉnh điểm. Huế chứ không thể ở nơi nào khác họp Đại hội Sinh viên học sinh toàn miền Nam công khai ra tuyên bố ủng hộ lập trường 7 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại hòa đàm Paris. Sự kiện này đã đẩy kẻ thù vào nỗi hoảng loạn mà đỉnh điểm là chúng điên cuồng mở Chiến dịch Bình minh (1972) bắt hàng ngàn người dân và những người yêu nước ra Côn Đảo. Chia rẽ trong nội bộ của địch ở vùng tạm chiếm ngày càng sâu sắc và nhân dân có khuynh hướng ngả dần về cách mạng.

Có thể nói suốt hành trình cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phong trào đô thị Huế đóng góp vô số sự kiện độc đáo, lẫy lừng không thể kể hết. Phần lớn là các sự kiện có một không hai ở thành thị Miền Nam.

Phong trào của sinh viên học sinh Huế

Ý nghĩa của phong trào đô thị 

Khi nói đến phong trào đô thị, nhiều người thường nghĩ đến những cuộc xuống đường, bãi khóa, đốt xe Mỹ... Nhưng nếu chỉ dừng ở chừng ấy thôi thì thật là phiến diện và không đầy đủ, chưa thấy hết tác dụng lớn lao của phong trào.

Trước hết, phong trào đô thị là một nét đặc sắc của cách mạng miền Nam. Nếu chiến tranh nhân dân hiểu theo nghĩa cổ điển là “lấy nông thôn bao vây thành thị”, thì phong trào đô thị chính là chiến tranh nổ ra từ thành phố, và từ thành phố phát triển về nông thôn vùng sâu, vùng xa. Phong trào diễn ra rất đa dạng với các loại hình hết sức phong phú, từ những tổ chức bị mật, công khai, bán công khai, đến những tổ chức biến tướng, cả trong những tổ chức do địch lập ra từ trường học, đến các công sở, các cơ quan của Mỹ ngụy, cả trong quân đội ngụy. Phong trào thu hút đông đảo các tầng lớp từ trí thức, tầng lớp trên đến sinh viên học sinh, đến công nhân, chị em tiểu thương, nông dân; các cán bộ, công chức trong chính quyền ngụy, binh sĩ trong ngụy quân. Có thể nói, phong trào đô thị như một trận bát quái đồ, ở đâu cũng có thể tập hợp lực lượng, ở đâu cũng có thể phân hóa địch. Và cũng chính những cuộc tập hợp này đã làm cho phong trào đô thị trở thành những cuộc tập dượt cách mạng, thúc đẩy và tạo thời cơ cách mạng.

Nhưng cao hơn nữa, phong trào đô thị khi đã là cao trào chính là lúc mũi nhọn của phong trào là đánh thẳng, khoan vỡ hệ thần kinh của Mỹ ngụy. Tạo nên những chuyển động mạnh mẽ làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, làm cho hậu phương địch rối ren, nội bộ địch phân hóa. Điều này lí giải vì sao ta thắng địch thua, trong mỗi tương quan lực lượng giữa ta và địch có khác biệt rất lớn.

Ở cơ sở, bằng những cuộc biểu tình bãi khóa những năm 1963-1964, phong trào đô thị Huế đã đánh nát tổ chức công an, mật vụ của chính quyền ngụy, đập tan Đảng cần lao nhân vị... Những thành công của phong trào đã góp phần cho cách mạng phát động phong trào đồng khởi, phá vỡ chính quyền ngụy các cấp, phá tan phong trào ấp chiến lược, các khu trù mật của Mỹ ngụy.

Phong trào đô thị đã phân hóa sâu sắc bộ máy quân đội, chính quyền của Mỹ ngụy. Những cuộc biểu tình đấu tranh liên miên những năm 1963-1966 đã làm cho địch rối loạn, nội bộ địch chao đảo với 12 cuộc đảo chính và phản đảo chính, 8 lần thay đổi chính phủ. Không thể nói chính quyền và quân đội ngụy không yếu đi khi miền Trung li khai chính quyền Sài Gòn với sư đoàn 1 hình thành chiến đoàn li khai Nguyễn Đại Thức, sinh viên Huế lập đoàn sinh viên quyết tử, cảnh sát ngụy lập Đoàn cảnh sát Phật tử, công chức lập Đoàn công chức Phật tử, Đài phát thanh Huế trở thành cơ quan ngôn luận của lực lượng đấu tranh... Tất nhiên để dẹp phong trào, địch phải tốn nhiều công sức tiền của... Kéo theo đó là sự phân hoá rệu rã trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền; phân hóa ở trong các chính khách.

Đối với thế giới, phong trào đô thị đã thu hút sự chú ý của Liên hiệp quốc, những quốc gia tiến bộ và người dân yêu chuộng hòa bình. Ngay tại nước Mỹ, người dân cũng như chính quyền Mỹ nghĩ gì về vai trò “sen đầm quốc tế” của mình khi lần đầu tiên trên thế giới, Toà lãnh sự Mỹ ở Huế bị đốt, cơ quan văn hóa thông tin Mỹ bị đập phá, trên đường phố ở Huế xe Mỹ liên tục bị đốt... Chính phong trào đô thị, đặc biệt là đô thị Huế đã làm cho chính giới Mỹ phân hóa sâu sắc. Sâu sắc đến độ nhiều chính khách của Mỹ đã xem việc Mỹ rút quân, hòa bình cho Việt Nam làm tuyên ngôn tranh cử của mình vào các cơ quan dân cử, kể cả tranh cử tổng thống.

Anh chị em phong trào đô thị Huế gặp nhau sau năm 1975 tại Trường Đại Học Sư Phạm Huế

Những con người của phong trào

Có lẽ đến bây giờ không ai có thể phủ nhận được tính chiến lược của phong trào đô thị, những đóng góp của phong trào trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Phong trào đô thị phát triển thành cao trào, đó là lúc xuất hiện thời cơ cách mạng, kết thúc chiến tranh. Tuy nhiên do hoàn cảnh và đặc điểm của cách mạng miền Nam (“cách mạng miền Nam ai làm nấy biết”), do cái nhìn phiến diện: “dân phong trào” - hiểu nôm na những người hoạt động trong phong trào đô thị - là dân tiểu tư sản, có nghĩa là dễ chao đảo trước những tình thế khó khăn. Mặt khác, những người hoạt động trong phong trào đô thị khá đa dạng, nhiều thành phần và trong mối quan hệ chằng chịt. Do vậy không phải người trong cuộc khó mà hiểu hết được. Ở đây, chúng ta cũng thấy hết âm mưu thủ đoạn địch nhằm bôi xấu và vô hiệu hóa những người hoạt động trong phong trào, kế hoạch hậu chiến của địch với chiến lược diễn biến hòa bình. Đó là chưa nói đến những kẻ cơ hội, đã vô tình hay hữu ý tiếp tay cho kẻ thù làm cho cái nhìn về phong trào sau ngày giải phóng trở nên rối rắm, phiến diện, để lại nhiều di chứng khó khắc phục.

Nhưng đã là “dân phong trào” thì luôn có cái hào khí của nó. Những người trong phong trào tìm con đường đi riêng của mình, theo cách của mình để tiếp tục cống hiến, phục vụ và thực sự họ đã có nhiều đóng góp xứng đáng.

Đó là trường hợp anh Lê Phương Thảo, là người lãnh đạo trực tiếp phong trào đô thị Huế. Sau ngày giải phóng rời chính trường, anh lao vào lĩnh vực giáo dục, hình thành Đại học Duy Tân, mở ra một phong trào xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển. Đại học Duy Tân thu hút trên 20.000 sinh viên và nằm trong tốp 20 trường dẫn đầu cả nước. Làm ăn thành đạt, anh đã giúp đỡ con em gia đình chính sách đi học, giúp đỡ những anh em phong trào khó khăn. Chỉ riêng đối với Ban liên lạc B14 (cơ quan Thành ủy trong kháng chiến) trong năm 2011 anh đã ủng hộ trên 100 triệu đồng để giúp đở đồng chí, đồng đội sửa chữa nhà cửa, hỗ trợ anh em quá khó khăn thiếu thốn.

Đó là hình ảnh cụ Nguyễn Hữu Đính, sau giải phóng cụ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Huế, trên nhiều diễn đàn, cụ luôn say sưa về một nền dân chủ thật sự, về môi trường và vị thế văn hóa Huế. Ý kiến của cụ đến nay vẫn mang đầy tính thời sự. Chính cụ là người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Huế, mà người tiếp nối là con trai của cụ - anh Nguyễn Hữu Châu Phan - vượt qua tuổi tác và bạo bệnh, anh Nguyễn Hữu Châu Phan cùng các anh trong Trung tâm Nghiên cứu Huế đều đều hằng năm cho ra đời các ấn phẩm sang trọng, đúng tầm vóc thành phố văn hóa, ấn phẩm Nghiên cứu Huế dày dặn mọi bề được giới nghiên cứu Huế trong nước cũng như bạn bè trên thế giới kính trọng.

Nếu như trong phong trào đô thị, Võ Quê được nhiều người biết đến bởi những vần thơ đầy hào khí như: “Thừa Phủ ơi! Lòng ta đồng biển lửa” được nhạc sĩ Nguyễn Phú Yên phổ nhạc. Sau ngày giải phóng, vượt qua bao thách thức, anh âm thầm miệt mài tập hợp nghệ nhân hình thành Câu lạc bộ ca Huế. Và có thế nói không ngoa, anh là người có công đầu trong việc phục hồi và phát triển ca Huế, từ sưu tầm lời ca đến tổ chức biểu diễn. Hình thành bước đầu ngành “công nghiệp” giải trí “ca Huế trên sông Hương”, làm cho Huế không còn là thành phố ngủ sớm. Ca Huế trên sông Hương đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được đối với du khách, hàng ngàn người dân đã sống được nhờ vào hoạt động văn hóa lành mạnh này.

Cùng với thế hệ của Võ Quê, anh Nguyễn Duy Hiền được mọi người thành phố biết đến như là công trình sư của các kỳ Festival, kể từ Festival CODEV Việt Pháp những năm 1990. Chính thành công của các kỳ Festival Huế cả chuyên đề lẫn tổng hợp đã góp phần định hướng, thúc đẩy xây dựng Huế thành thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.

Và còn biết bao anh em trong phong trào miệt mài chạy đua với thời gian, đấu tranh với tuổi tác và bệnh tật, tìm con đường riêng của mình tiếp tục “dấn thân”. Không có danh hiệu thi đua nào cho họ, nhưng trong tình cảm của nhiều người: họ đúng là những công dân ưu tú của Huế.

L.V.L
(SDB 6-12)