Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Phan Bùi Bảo Thy viết về Hồ Xuân Mãn trên báo ANTG

Trang nhất > An Ninh Thế Giới > Tư liệu

Anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh

9:55, 31/01/2013



Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Xuân Mãn.
Đêm 9/9/1966, có một chàng trai chưa tròn 16 tuổi, từ biệt cha mẹ, ông nội  và làng Phò Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên để cùng những người bạn đồng liêu là các anh Hoàng Xê, Hồ A… tìm đường lên chiến khu tham gia kháng chiến, gia nhập vào Đại đội An ninh vũ trang đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên. Trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc trên mặt trận Thừa Thiên, anh đã cùng với những đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh "xuất quỷ nhập thần" làm cho quân lực Hoa Kỳ và binh sĩ quân đội Sài Gòn nhiều phen kinh hồn, bạt vía…

Kẻ thù từng xem anh là "tên an ninh Việt Cộng đặc biệt nguy hiểm" và đã nhiều lần đưa ảnh chân dung của anh lên mục cáo thị để treo giá trọng thưởng bằng tiền cho bất cứ ai bắt sống hoặc tiêu diệt được anh (Theo hồ sơ của Cảnh sát đặc biệt chế độ Sài Gòn để lại - NV). Chàng trai lớn lên từ đất làng Phò Ninh ấy tên là Hồ Xuân Mãn - một người đã đi qua chiến tranh với 33 lần được phong dũng sĩ, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 Huân chương Giải phóng các hạng và 1 Huân chương Quyết thắng, 3 huy hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và cả giấy chứng nhận danh hiệu "Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường".
Sau này, trong công cuộc dựng xây quê hương, đất nước, ông là Ủy viên Trung ương Đảng, 2 nhiệm kỳ liên tiếp giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Một ngày cuối năm se lạnh ở làng Phò Ninh, trên bậc thềm của ngôi nhà hương hỏa của gia đình, tôi có dịp ngồi đối diện cùng ông để được nghe ông kể thật nhiều những câu chuyện của tuổi thơ nghèo khó, những năm tháng tham gia kháng chiến vào sinh ra tử rồi thời kỳ hậu chiến vất vả, kiến thiết xây dựng quê hương và cả những được mất, buồn vui của một đời người…
Ông kể rằng, khi mình lớn lên, biết suy nghĩ mới thấy những người thân của mình, bà con làng xóm của mình đã bao năm phải chịu đựng dưới nhiều tầng áp bức của chế độ đương thời. Được giác ngộ bởi chính những người thân trong gia đình đã tham gia cách mạng trước đó, cùng với bầu máu nóng của lớp người trẻ tuổi, vậy là ông cùng với những người bạn đồng liêu trong làng quyết định ra đi. Ông kể, ngày đó quyết tâm lên rừng theo cách mạng nhưng chưa thấu tỏ cách mạng là gì hết.
Đêm hôm ấy ra đi cùng với Hoàng Xê, Hồ A và một người bạn nữa tên là Hoàng Nãi, nhà ở cạnh nhà ông. Nhưng khi đến giờ hẹn để lên đường thì anh Nãi bảo rằng đi bộ đội chủ lực xa nhà quá, thôi thì để anh ở lại đi du kích địa phương, vậy là chỉ còn lại ba anh em lặng lẽ tìm đường đến điểm hẹn có người đưa lên chiến khu trong đêm tối. Hành trang lên hậu cứ cách mạng của Hồ Xuân Mãn ngày ấy chỉ có một chiếc võng, một chiếc dù của ông nội tặng, mẹ ông mua cho đôi dép mới, hai bánh đường đen với hai lon đậu huyết (đậu đỏ - NV) của gia đình trồng được.
Đúng giờ hẹn, giao liên có mặt để đưa ba anh em lên đường. Từ Phong An đi lên hướng xã Phong Sơn, vượt dốc Ba Trục ở chỗ khu du lịch nước khoáng Thanh Tân bây giờ, rồi luồn rừng đi mất một đêm hôm đó với gần một ngày hôm sau mới đến chiến khu. Đến nơi, ba anh em nhìn nhau rơm rớm nước mắt vì trước lúc đi ai cũng nghĩ rằng ở vùng Cách mạng cũng có nhà, có xe, có mọi thứ chứ cả ba người không ai hình dung được cách mạng lúc ấy chỉ là vài cái lán nhỏ bằng tranh tre nứa lá được dựng chênh vênh bên cạnh bờ suối ở trong rừng già, xung quanh chỉ toàn là những thứ âm thanh lạ kỳ của chim kêu, vượn hú…
Chiều hôm ấy, cả ba người được các chú, các bác trong hậu cứ nấu cơm cho ăn, ăn cơm xong thì cả ba người ngồi ôm nhau khóc vì nhớ nhà. Thỉnh thoảng nghe từ phía bờ suối vọng lên tiếng kêu quép… quép… của mấy con ếch ương, hỏi mấy ông cán bộ con gì kêu, mấy ông cán bộ bảo đó là tiếng kêu của cọp. Nghe đến đó là cả ba người hoang mang đến tột độ. Ngày hôm sau, cấp dưỡng nấu cơm nhưng cả ba đều ủ ê nằm khóc, không một ai dậy ăn cơm mà nằm bàn với nhau "thôi thì trốn về quê đi du kích, chứ ở giữa rừng già này thì biết làm sao…".
Bước qua ngày thứ ba ở rừng thì anh Vân (người quê gốc ở Hải Phòng do Bộ tư lệnh Công an vũ trang chi viện vào làm Đại đội trưởng, anh Minh Chính trị viên; anh Lợi người ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên là Đại đội phó) gọi ba người dậy để động viên, anh Vân nói: "Nếu mấy chú muốn về thì các anh cho về, nhưng bây giờ không có giao liên nên các chú phải tự đi, cái khó là bây giờ mấy chú đi ra là cọp nó chụp liền, chết mà không toàn thây vì bị cọp ăn thì cũng khổ…". Nghe xong, cả ba nhìn nhau rồi bằng lòng ở lại. Ở hậu cứ được chừng một tuần lễ thì cả ba anh em bắt đầu bị sốt, nằm liệt gần một tháng trời, đứa nào cũng xanh xương, vàng da, trên đầu rụng không còn lấy một sợi tóc.
Ông Mãn nhớ lại, nằm trong lán vật vã phải hơn một tháng sau mới khỏe, khi thấy đã quen với đời sống núi rừng thì các đồng chí lãnh đạo mới cho đi huấn luyện. Lúc đó, mỗi đứa được phát một cây súng K44 (loại súng bỏ từng viên đạn rất to rồi lắc để bắn), ôm cây súng trên tay mà nước mắt chảy dài vì cây súng ấy dựng lên đã cao hơn mình một đoạn. Những ngày ấy ở chiến khu, anh em trẻ như ông chủ yếu là được đơn vị cho đi bảo vệ mục tiêu lúc đó là cơ quan tỉnh ủy, rồi đi tuần xung quanh khu vực đóng quân.
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông Hồ Xuân Mãn.
Nhấp một ngụm trà đang tỏa hương ngào ngạt, ông Mãn kể tiếp: Cho đến bây giờ ông vẫn không thể nào quên được cái buổi chiều đầu tiên trong cuộc đời mình nhìn thấy máu chảy. Đó là một buổi chiều đầu năm 1966, sau khi Tiểu đội bảo vệ của ông được giao nhiệm vụ đi bảo vệ Đại hội thi đua của tỉnh trở về, trên đường về thì gặp trời mưa, với lại anh em tranh thủ dọc đường hái măng giang để mang về cải thiện đời sống nên áo quần người nào cũng bẩn. Vừa về đến lán trại của đơn vị, để súng đạn và số măng giang hái được ngổn ngang trên sàn là anh em lao ngay xuống suối tắm.
Tắm xong thì anh Thành quê ở xã Quảng Điền (nay còn sống ở Quảng Điền - NV) lên trước ngồi lau súng, tiếp đó anh em theo lên nhưng còn lại một người là anh Huề quê ở xã Phong Sơn là Tiểu đội trưởng mà không ai hay biết. Vừa ngồi lau súng, anh Thành vừa hỏi "còn đứa nào dưới suối không? Cũng chẳng thấy ai trả lời nên anh Thành thử siết cò thì bỗng dưng súng nổ. Từ dưới suối, anh Huề la toáng lên: "Chết rồi tụi bây ơi…tao gãy chân rồi…".
Hoảng hốt, tất cả anh em đều chạy ào xuống suối và thấy anh Huề đang quằn quại với cái chân đầy máu. Hôm đó, sau khi anh em lo băng bó, chữa thương cho anh Huề xong thì phải lo giải quyết những bức xúc của mấy anh em là người dân tộc thiểu số trong cùng tiểu đội. Cù Mi, Cù Đức và Cù Toản vì quá thương tiểu đội trưởng Huề mà cho rằng anh Thành là người theo địch và vì theo địch nên mới vác súng bắn Tiểu đội trưởng Huề.
Để trả thù cho Tiểu đội trưởng Huề, Cù Mi đã đi tìm anh Thành để trả thù. Đêm đó, mọi người phải đem anh Thành đi giấu ở một nơi bí mật và rạng sáng hôm sau thì đến gõ cửa cơ quan tỉnh ủy để báo cáo sự việc và xin chuyển công tác cho anh Thành về đó làm giao liên.
Suốt cả năm 1966, ông cùng đơn vị hoạt động ở vùng rừng núi ở Khe Trái, phải đến đầu năm 1967 thì mới được cấp trên cho phép về hoạt động ở vùng đồng bằng. Nhiệm vụ lúc ấy của an ninh vũ trang là xuống các xã của huyện Phong Điền, Hương Trà để phối hợp với các lực lượng "diệt ác, phá kìm", mở rộng vùng giải phóng, nới rộng dần phạm vi hoạt động. Cũng năm này, lần đầu tiên mới chính thức đụng độ với lính bộ binh của Mỹ. Ông Mãn kể, hôm ấy trung đội của ông nhận nhiệm vụ chống càn với một đại đội lính biệt kích Mỹ tập kích vào hậu cứ.
Theo phân công, cứ hai đồng chí của ta chịu trách nhiệm tiêu diệt một lính Mỹ, kế hoạch là bí mật phải đợi đến khi mục tiêu cách điểm phục kích 50 mét mới được siết cò súng. Lần đầu tiên đánh Mỹ, không riêng gì ông Mãn mà hầu hết anh em trong trung đội với vũ khí khá lạc hậu chủ yếu là súng bán tự động, súng K50, K43 Tuyn cải tiến từ chiến tranh chống Pháp còn lại, đều thấy hoang mang khi nhìn thấy đại đội lính Mỹ to lớn, kềnh càng súng đạn dàn hàng ngang tiến vào đội hình.
Y lệnh trên, khi thấy mục tiêu đã vào địa điểm cho phép là anh em đồng loạt bóp cò, sau đó rút nhanh để đề phòng phi pháo và bảo toàn lực lượng. Tổng kết trận đó, trung đội ông đã tiêu diệt 14 lính Mỹ. Anh em rất phấn khởi vì tin tưởng một cách chắc chắn rằng là mình đánh được Mỹ (trước thời điểm ông Mãn đánh Mỹ thì ở chiến trường Quảng Nam và các đơn vị du kích cũng như chủ lực của ta ở chiến trường Thừa Thiên cũng đã đánh Mỹ - NV). Từ đó, cứ theo năm tháng đánh địch, Đại đội An ninh vũ trang đa số anh em đều rất có kinh nghiệm và dạn dày trận mạc.
Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị chỉ để lại một đại đội làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu ở hậu cứ, số còn lại được tăng cường để nâng cấp thành Tiểu đoàn Trinh sát vũ trang do ông Hải làm Tiểu đoàn trưởng (tiểu đoàn này sau được phong Anh hùng lực lượng vũ trang, hiện có các ông Lê Việt Hà, Bạch Hiền, Phê "điếc", Điệp "đui", Bạn… hiện đang sống tại Huế). Tiểu đoàn trinh sát này được trang bị hỏa lực rất mạnh (cứ 3 người có một khẩu B40, 2 khẩu AK báng gấp) để đánh luồn sâu vào nội thành và chuẩn bị cho cuộc tiến công.
Lúc bấy giờ, Đại đội An ninh vũ trang được bố trí một trung đội ở lại bảo vệ hậu cứ, một trung đội phối hợp với lực lượng An ninh Hương Trà bảo vệ trại giam, tiếp nhận tù binh và tài liệu, một trung đội phối hợp với các lực lượng chiến đấu vào thành phố Huế. Trung đội này chia thành 2 nhóm, một nhóm đi cùng với bộ đội chủ lực và trinh sát vũ trang để tiếp quản, vận chuyển tài liệu và dẫn giải tù binh, đặc biệt là loại tình báo, gián điệp. (Các đồng chí làm công tác dẫn giải tù binh đa số là anh em người đồng bào dân tộc như: đồng chí Cu Mi, Cu Đích, Cu Pả…).
Nhóm của ông Mãn đi theo Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 do đồng chí Khảm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Khả Phiêu (sau này là Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng) làm Chính ủy. Vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, trinh sát, dẫn đường, vận động nhân dân tiếp tế lương thực. Ông Mãn bảo rằng, chiến dịch Mậu Thân năm 1968 với đồng chí Lê Khả Phiêu có thật nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Tỷ dụ như chuyện anh em tìm được đồng chí Quốc Bảo bị thương nặng nằm sót lại ở Cửa Đông Ba (nay anh Bảo còn sống và làm kinh doanh).
Nhớ nhất là chuyện, sau khi cả tổ dẫn  Trung đoàn 9, kể cả thương binh ra vùng giải phóng, vừa đi vừa đánh nhau với Sư đoàn Kị binh Không vận số 1 của địch. Lên đến vùng A Lưới, súng mỗi khẩu chỉ còn một ít đạn, 1 đồng chí lại vác từ 2 đến 3 khẩu (vì còn phải cáng thương binh), bộ đội không đi nổi vì thiếu lương thực, xin đồng bào dân tộc cũng không có nhiều.
Đồng bào và du kích địa phương nói rằng: Bộ đội cần sắn để ăn, mình cần súng để đánh Mỹ, hay là bộ đội đổi cho mình? Lúc bấy giờ, đồng chí Lê Khả Phiêu đồng ý, cứ mỗi khẩu CKC là 3 gùi sắn, nhờ thế bộ đội có cái ăn để hành quân đến vùng giáp với biên giới Việt - Lào. Sau này, mỗi lần gặp lại đồng chí Lê Khả Phiêu, đồng chí ấy bảo rằng "vụ lấy súng đổi sắn hồi Mậu Thân suýt nữa thì bị Quân khu kỷ luật, nhưng sau khi nghe mình phân tích có lý, có tình nên Quân khu lại hoan nghênh…". 
(Còn nữa)

  Phan Bùi Bảo Thy


NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA ĐẤT PHÒ NINH (TIẾP THEO VÀ HẾT)
3:10, 02/02/2013
Từ A Lưới, tổ của ông Mãn quay trở lại Hương Trà để cùng với Đại đội An ninh vũ trang đánh địch, mở đường cho Tỉnh ủy chuyển từ Khe Trái, Hương Trà về khu vực Khê Đầy, Hương Thủy để trú ẩn. Thời kỳ này, ở Khe Trái máy bay B52 của địch oanh kích một ngày không biết bao nhiêu lần, đạn từ máy bay rót xuống dày đặc, rừng núi trơ trụi, hố bom chồng lên hố bom. Chỉ có các cơ quan đầu não như Thành ủy, Tỉnh ủy, Ty Công an là di chuyển an toàn, còn lại những đơn vị chưa di chuyển được, nhất là kho tàng thì bị thiệt hại rất nặng nề sau nhiều ngày rải thảm của địch.
Năm 1969, ông Mãn được đơn vị bầu là Chiến sĩ thi đua và giữa năm 1969, được Ban An ninh khu cử đi học lớp nghiệp vụ 3 tháng ở Quảng Bình. Đầu năm 1970, ông Mãn được ông Lê Sáu - Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy - Bí thư Huyện ủy xin về địa bàn Phong Điền làm thư ký và bảo vệ.
Khi trở lại vùng đất Phong Điền - Quảng Điền thì cán bộ cơ sở không còn nhiều nữa vì bị phản kích. Lúc bấy giờ, lãnh đạo quyết định trưng dụng quân của Đại đội 1, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6 do ông Vũ Thắng (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng - Bí thư tỉnh ủy Bình Trị Thiên - NV) làm Chính ủy về tăng cường cho các địa phương để bổ sung vào lực lượng du kích. Có những người đang là đại đội trưởng, đại đội phó một đơn vị chủ lực, tăng cường làm xã đội trưởng. Như trường hợp của đồng chí Tăng Văn Phả, đại đội trưởng được tăng cường làm xã đội trưởng xã Phong Sơn (sau này đồng chí Phả là Bí thư tỉnh ủy Hà Nam - NV) .
Là người dân địa phương, ông Mãn thấy rằng nếu thực hiện chính sách đưa quân chủ lực về tăng cường địa phương sẽ vô cùng nguy hiểm, hơn nữa phương án này anh em sẽ hy sinh nhiều. Thứ nhất vì quân chủ lực về ở địa phương không ai rành đường sá; thứ hai anh em không rành các phương án xây dựng cơ sở bí mật tại địa phương. Vì lẽ đó, ông Mãn đã xin ý kiến lãnh đạo để được chuyển hướng hoạt động, tức là không nằm vùng ở dọc tuyến phía ngoài (đồi rú, bờ ruộng, ao bàu) mà chuyển hẳn vào nằm vùng bí mật trong dân. Tổ chức xây dựng nên một vùng căn cứ lỏm ở ngay trong địa bàn các thôn xóm. Ở đó, ông đã cùng với các đồng chí của mình bám trụ, xây dựng các đơn vị du kích, chi bộ mật. Thời điểm này, cả Phong An, Phong Điền có gần 2 trung đội du kích mật và 3 chi bộ, chi đoàn mật.
Năm 1971, ông đã cùng với lực lượng du kích ở xã Phong An luồn sâu vào vùng địch hậu, tấn công tiêu diệt nhiều lực lượng phòng vệ dân sự của địch. Đưa hơn 40 thanh niên lên hậu cứ bổ sung thêm lực lượng. Có lực lượng trong tay, ông cùng những đồng chí của mình tổ chức những trận đánh nhỏ lẻ để dằn mặt địch, hồi ấy chủ yếu là đánh bằng bom mìn, mục tiêu là bọn nghĩa quân, địa phương quân, dân vệ…
Có lần, ông cùng với hai người đồng chí tên Minh (sau này ông Minh làm Phó giám đốc Sở Nội vụ của tỉnh Thừa Thiên Huế - NV) và Hùng (nay sinh sống ở Vĩnh Hưởng - NV) đánh một trận chí mạng làm lực lượng địch ở địa bàn Phong An hoảng loạn.
Ông nhớ lại, hồi đó, ở vị trí cổng vào làng Phò Ninh quê ông, địch thành lập nên một cái chốt và bố trí ở đó một trung đội để canh chừng. Sau một thời gian điều nghiên quy luật hoạt động của địch, ông quyết định đánh. Hôm ấy là ngày 14 âm lịch nên trăng rất sáng. Tổ công tác của ông bí mật tiếp cận vị trí chiến đấu để đặt 1 quả mìn Claymo nằm chờ.
Khoảng 20 giờ 15 phút, cả trung đội địch bước ra đi tuần tra, ông Mãn lấy chân đá vào chân đồng chí Minh ra lệnh khai hỏa. Quả Claymo trước điểm phục kích địch vang lên một tiếng nổ chát chúa, tiếp đó ông Mãn rút chốt trái lựu đạn ném về phía địch, rồi nhanh chóng rút quân một cách an toàn. Trận đó, toàn trung đội địch có 28 tên thì chỉ còn 1 tên sống sót do lúc anh Minh điểm hỏa tên này đang ghé vào một ngôi nhà bên đường để uống nước.


Ông Hồ Xuân Mãn (người đội mũ thứ hai - từ phải sang) ở chiến khu Khe Trái.
Một lần khác, ông phát hiện thấy một trung đội địa phương quân của địch hàng ngày đóng chốt ở trên Động Hóc gần làng Phò Ninh. Qua theo dõi, ông đã nắm được hành trình tuần tra của chúng, sau mỗi lần đi tuần về thường là chúng bắt gà, bắt vịt của người dân trong làng mang lên Động Hóc để nướng ăn. Hồi đó là tháng 11 nên thời tiết rất lạnh, địch thường tận dụng việc nướng gà, vịt để cùng nhau ngồi sưởi ấm. Vậy là ông cùng với một đồng chí tên Công đi kiếm 1 quả pháo 155 ly, đục phần đầu để cài kíp mìn vào trong đó.
Lợi dụng thời điểm địch đi tuần tra, ông cùng với người đồng chí của mình đột nhập lên Động Hóc, bí mật đào lỗ ngay dưới đống tro mà địch hay đốt lửa để cài quả đạn, rồi ra ngoài trèo lên một ngọn cây để quan sát. Sau khi địch đi tuần tra về, đúng như nhận định của ông, chúng gom củi để đốt lửa sưởi ấm. Khi cả trung đội lính ngụy đang xúm lại bên đống lửa thì một tiếng nổ vang lên, khói và đất đá tung lên mù mịt. Lần ấy, cả trung đội 29 tên cũng chỉ còn 1 tên sống sót vì đang đi lấy củi từ xa.
Ông Mãn kể rằng, thời buổi đó anh em hầu như tuần nào cũng đánh vài trận, tuy rằng chỉ đánh nhỏ lẻ nhưng hiệu quả rất cao. Có những lần ông còn phối hợp cùng xã đội với 3 đồng chí đột nhập ban ngày vào khu tập trung để tiêu diệt những tên ác ôn khét tiếng làm cho bọn chúng hết sức hoang mang, lo sợ. Ngoài chuyện đánh để tiêu diệt sinh lực địch, ông Mãn còn cùng với anh em trong lực lượng của mình tổ chức tháo gỡ các loại mìn do địch gài dày đặc, nhất là loại mìn địch gài bằng điện gọi là mìn Căng - Chùng - Nổ, để phục kích cán bộ của ta vào ấp ban đêm. Hồi ấy, ông gỡ mìn thiện nghệ đến mức anh em trong đơn vị mệnh danh là "ông vua gỡ mìn".
Năm 1973, sau gần một tháng rời địa bàn để ra vùng Cồn Tiên - Quảng Trị dự Đại hội Chiến sĩ thi đua 18 về tổng kết công tác chống Mỹ. Khi trở về đến địa bàn huyện A Lưới, ông nhận được hung tin là hầu hết các cán bộ chủ chốt ở địa bàn đã hy sinh trong những trận phục kích của địch. Trong số đó có chị Hạnh - Huyện ủy viên, Bí thư xã Phong An; anh Đời - Bí thư xã Phong Sơn; anh Thuận - Xã đội trưởng Phong An; anh Đàm, anh Anh - du kích và nhiều đồng chí khác…
Về đến A Lưới hôm trước, thì hôm sau được ông Lê Tư Sơn - Bí thư huyện ủy, ông Luyện - Huyện đội trưởng, ông Phạm Văn Danh - Trưởng Công an huyện gọi ông đến để thông báo tình hình và đề nghị ông tìm mọi cách phải về xã Phong An để kết nối lại liên lạc chứ không thể để trống địa bàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phong trào. Ông Lê Tư Sơn vỗ vai ông nói: "Tình hình như vậy đó, bây giờ cháu có yêu cầu gì cháu cứ đề xuất từ chuyện con người đến vấn đề vũ khí…".
Sau khi thống nhất kế hoạch, ông xin 5 kg lương khô, 4 hộp đạn AK và chọn đồng chí Hùng vì anh này rất rành đường sá mà lại khá gan dạ. Ông Luyện đưa Trung đội trinh sát của anh Quyết, anh Thiều thuộc Huyện đội bố trí yểm trợ cho ông vượt tuyến. Sau khi vượt tuyến, ông được anh Châu giao liên dẫn đường để trở lại địa bàn. Khi chia tay ở địa bàn thôn Vĩnh Hưởng thì anh Châu không chịu quay về mà cứ nắm tay ông đứng khóc vì biết được rằng khả năng sống sót sau chuyến trở về này của ông là quá đỗi mong manh. Ông an ủi Châu rằng: "Đừng khóc, vì mày cứ khóc thế này tao đi không được, thôi thì Châu về, nếu đêm nào Châu không nghe mìn nổ vậy là tao còn sống…".

Ông Hồ Xuân Mãn tặng học bổng cho học sinh nghèo.
Chia tay với anh Châu, ông cùng đồng chí Hùng lần mò về Phò Ninh và quyết định náu mình dưới một bàu nước rất lớn để che mắt địch. Hồi ấy là tháng 5 nên trời rất nóng, cứ 5 giờ sáng hai anh em lội xuống bàu để lấy cỏ lác, cỏ lùm trùm lên người để ẩn nấp là bắt đầu bị đỉa tấn công. Ông kể, từ tai trở xuống đến chân chỗ nào cũng có đỉa bám. Chịu đựng vấn nạn đỉa đã khổ, nhưng cứ tầm 9 giờ trở về chiều khi trời nắng to, nước dưới bàu cũng nóng mới là cực hình. Phải đến sau 6 giờ chiều hai anh em mới mò lên khỏi mặt nước, lúc đó cơ thể của ai cũng tấy đỏ như màu sơn của những chiếc máy cày MTZ.
Thoát khỏi vị trí ẩn nấp bên bàu nước, ông quyết định tìm về trên cánh đồng mà theo nhận định của ông kiểu gì cũng sẽ gặp các gia đình cơ sở ra đó để sản xuất. Một hôm, khi đang nằm bên bờ ruộng gần đám khoai lang thì ông phát hiện một chị cơ sở tên là Nguyệt ra hái rau. Ông gọi tên thì chị này quay lại, khi chị Nguyệt nhận ra ông thì nét mặt chị tái đi, chị hốt hoảng thông báo cho ông biết địa bàn này bây giờ ở bất cứ nơi đâu cũng có địch dò xét nên vô cùng nguy hiểm. Ông động viên chị Nguyệt là "cô hãy yên tâm, vấn đề quan trọng là làm sao Nguyệt phải liên lạc được với chị Hoa - Chi ủy và chị Bơi - Bí thư chi bộ để thông báo là anh đang ở đây, bằng mọi giá ngày mai ra đây cho anh gặp và cố gắng mai cho anh xin một ít cơm…".
Hôm sau, chị Hoa, chị Bơi cải trang thành người đi làm ruộng để mang cơm ra cho ông, mới đến nơi, vừa vứt chiếc ấm nước bên trong có cơm với muối mè là các chị nói ngay: "Không được, không thể ở đây được vì địch xung quanh đây quá nhiều, ở đây trước sau gì cũng chết…". Thế rồi, ông chọn một lùm cây gai gần với cánh đồng sát quốc lộ 1A làm nơi ẩn náu để tìm thời cơ liên lạc gây dựng cơ sở. Qua gần một tháng ở trong lùm cây gai đó, hai người cứ lần mò bắt được liên lạc và củng cố cơ sở ở làng Phò Ninh, một số cơ sở ở làng Thượng An và một cơ sở ở làng Bồ Điền. Nhưng lúc đó, ông xuất hiện ở cơ sở nào cũng bị các đồng chí ở đó van nài, xua đuổi vì tình hình quá nguy hiểm cho ông…
Một hôm khi ông cùng cơ sở của mình ở làng Bồ Điền đang làm một căn hầm bí mật thì có một giao liên mang thư mật của Huyện ủy đến bảo rằng ông phải thu xếp để trở về hậu cứ báo cáo tình hình cho ông Lê Tư Sơn - Bí thư Huyện ủy. Ông nhấn mạnh: Vào thời kỳ chiến tranh ác liệt đó, cán bộ của ta ai đã về được đồng bằng là được xem như một lần thoát chết nhưng từ đồng bằng mà trở lại hậu cứ thì còn nan giải hơn rất nhiều lần. Nguy hiểm là thế nhưng mệnh lệnh là phải thi hành.
Trở về hậu cứ, ông gặp lại người đồng đội là Trần Văn Minh vừa đi học trường Đảng của tỉnh về. Từ đó, ông tập trung lực lượng, bổ sung thêm một số cán bộ có kinh nghiệm đánh địch để tạo dựng phong trào trở lại địa bàn các xã Phong An, Phong Sơn để vừa hoạt động vừa đánh địch. Những năm tháng đó, Hồ Xuân Mãn đã cùng với đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh "vô tiền khoáng hậu", đặc biệt có 2 vụ diệt 2 tên ác ôn khét tiếng mà Huyện ủy phát động nhiều năm chưa diệt được... Cứ thế, ông đã cùng đồng đội đánh địch cho đến ngày Huế được giải phóng 26/3/1975.
Sau ngày thống nhất, ông nhận nhiệm vụ mới là khai thác hồ sơ hậu chiến, rồi chuyển sang làm Đại đội phó - Đại đội tháo gỡ bom mìn để đưa dân trở về làng cũ. Năm 1976, tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sát nhập thành một đơn vị hành chính là tỉnh Bình Trị Thiên. Ông chuyển ngành và đi học Trường Nguyễn Ái Quốc, sau khi ra trường ông về làm Bí thư Huyện đoàn Phong Điền lúc ấy ông tròn 30 tuổi. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chánh Văn phòng Huyện ủy, Thường vụ huyện ủy - Trưởng ban Tuyên giáo, năm 1990 tham gia Tỉnh ủy với chức vụ Bí thư Huyện ủy Phong Điền, 1993 là Thường vụ Tỉnh ủy - Trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy, năm 1995 là Phó bí thư Tỉnh ủy, năm 2000 là Bí thư Tỉnh ủy 2 nhiệm kỳ cho đến ngày nghỉ hưu.
Trong thời gian sau này, ông đã vinh dự được nhận thêm 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì và 1 Huân chương Chuyên án An ninh tôn giáo, 1 Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, 1 Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng 3 Huân chương gồm 1 Huân chương Hữu nghị, 1 Huân chương Itxala hạng 2, 1 Huân chương Lao động hạng 2. Năm 2010, xét thành tích cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Giờ đây, ông nghỉ ngơi sau nhiều thập niên đã cống hiến sức mình và kể cả một phần máu thịt cho quê hương, đất nước… ngày ngày ông vui vầy bên bè bạn, cháu con. Đôi ba bữa ông lại trở về ngôi nhà cũ ở làng Phò Ninh để hương khói cho tổ tiên, ông bà, chăm sóc cây kiểng, hàn huyên với bạn bè, đồng đội cũ. Ông bảo rằng, ở đời làm người có danh phận cũng lắm thị phi, nhưng mình phải rộng lòng hỉ xả, bởi vì với những hạng người vô tâm hèn hạ thì họ vẫn đáng thương nhiều hơn là đáng trách…
Phan Bùi Bảo Thy

15 nhận xét:

  1. Đoàn kiểm tra có hỏi Bác Lê Khả Phiêu, Bác Phiêu nói năm 1968 tôi có biết HXM là thằng nào đâu...mà kỉ với niệm...19:00 12 tháng 10, 2013

    Nhóm của ông Mãn đi theo Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 do đồng chí Khảm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Khả Phiêu (sau này là Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng) làm Chính ủy. Vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, trinh sát, dẫn đường, vận động nhân dân tiếp tế lương thực. Ông Mãn bảo rằng, chiến dịch Mậu Thân năm 1968 với đồng chí Lê Khả Phiêu có thật nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Tỷ dụ như chuyện anh em tìm được đồng chí Quốc Bảo bị thương nặng nằm sót lại ở Cửa Đông Ba (nay anh Bảo còn sống và làm kinh doanh).

    Trả lờiXóa
  2. Hữu Thu đâu rồi?20:10 12 tháng 10, 2013

    Nhìn nhưng dòng người đưa tiễn Đại tướng về quê Mẹ Quảng Bình, những cựu chiến binh, những mẹ già những em thơ bật khóc kính cản nghiêng mình tiễn đưa Đại Tướng vè quê Mẹ Quảng Bình. Nhân dân vĩ đại đã tôn đại tướng làm thánh nhân của Dân Tộc

    Chúng ta hãy nhớ Đại Tướng của chúng ta, Đại tướng của nhân dân , của Quân đội anh hùng đã từng đánh thắng hại đế quốc to Là Pháp và Mỹ, Chưa một lân được nhà nước phong Anh Hùng
    HXM hãy nhớ điều ấy.

    Trả lờiXóa
  3. PBBT viết bậy, đầu năm 1974 Trần Văn Minh, bí thư Phong An đang được đi học tại Alưới, Mãn chưa bao giờ đi học ở trường Nguyễn Ái Quốc, có thời gian học ở trường Tuyên Huấn...20:23 12 tháng 10, 2013

    Trở về hậu cứ, ông gặp lại người đồng đội là Trần Văn Minh vừa đi học trường Đảng của tỉnh về. Từ đó, ông tập trung lực lượng, bổ sung thêm một số cán bộ có kinh nghiệm đánh địch để tạo dựng phong trào trở lại địa bàn các xã Phong An, Phong Sơn để vừa hoạt động vừa đánh địch. Những năm tháng đó, Hồ Xuân Mãn đã cùng với đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh "vô tiền khoáng hậu", đặc biệt có 2 vụ diệt 2 tên ác ôn khét tiếng mà Huyện ủy phát động nhiều năm chưa diệt được... Cứ thế, ông đã cùng đồng đội đánh địch cho đến ngày Huế được giải phóng 26/3/1975.
    Sau ngày thống nhất, ông nhận nhiệm vụ mới là khai thác hồ sơ hậu chiến, rồi chuyển sang làm Đại đội phó - Đại đội tháo gỡ bom mìn để đưa dân trở về làng cũ. Năm 1976, tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sát nhập thành một đơn vị hành chính là tỉnh Bình Trị Thiên. Ông chuyển ngành và đi học Trường Nguyễn Ái Quốc, sau khi ra trường ông về làm Bí thư Huyện đoàn Phong Điền lúc ấy ông tròn 30 tuổi.

    Trả lờiXóa
  4. Diễn đàn này không nói dóc20:28 12 tháng 10, 2013

    Anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh vô đảng khi mô rứa hè?
    33 cái dũng sĩ được giám định đẹp hè?

    Trả lờiXóa
  5. Cũng tại An Ninh Thế Giới, Phan Bùi Bảo Thy có bài viết Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh, đây chỉ là bài viết của Hữu Thu Ông Hồ Xuân Mãn có cướp công? bị thay đổi bao bì, cũng như bài Đêm về xóm Bồ của Hồ Xuân Mãn, mục đích là đánh bóng cho cái thanh danh của Hồ Xuân Mãn...nhưng động tác này của Hữu Thu là thô thiển, Hữu Thu cũng phô tô phát tán...dân Huế biết rõ Hữu Thu, biết đầy đủ Hồ Xuân Mãn, có điều Mãn chủ quan nghĩ rằng thiên hạ ngu ngơ...
    Phan Bùi Bảo Thy là cây bút tư liệu xuất sắc, có nhiều kinh nghiệm, nhưng viết giúp cho Hồ Xuân Mãn...bài viết này không thỏa mãn yêu cầu của người đặt hàng...phản tác dụng...người đọc báo cảm thấy khó chịu vì nhà báo chỉ ca ngợi những điều Hữu Thu đã ca ngợi, không có gì mới, có thêm thắt cho có...xáo xáo thành bài Những trận đánh “xuất quỷ nhập thần” của người con ưu tú đất Phò Ninh đăng trên báo Cảnh Sát Toàn Cầu, cũng phớt lờ những câu hỏi từ độc giả qua bài báo của Hữu Thu...

    Trả lờiXóa
  6. Phải làm rõ Mãn vào Đảng ở đâu? ai giới thiệu?22:25 12 tháng 10, 2013

    Mãn không đủ đạo đức, phẩm chất cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Bác Hồ dạy; 35 năm sau chiến tranh, Mãn không có bằng tốt nghiệp cấp 2 BTVH, UBKTTƯ Đảng đã kết luận Mãn không có bằng, chỉ có mấy cái chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức QLKT vớ vẩn thôi, thì không thể gọi là cần được, Uống rượu chivas 38 còn chêm thêm mật bò tót cho sung thì không thể gọi là kiệm được, công khai việc 3.000 USD vô chủ hối lộ thì không thể gọi là liêm được, bị nữ tiếp viên nhà hàng bạt tai giữa bàn dân thiên hạ, khi ra ứng cử HĐND tỉnh, đã công khai lí lịch có bằng Cử nhân Luật thì không thể gọi là chính được, chạy cho con vào đại học bằng đường cử tuyển, xếp em không có bằng cấp tương ứng làm giám đốc sở TT&TT, can thiệp để thằng em lem nhem làm Trưởng phòng CSGT tỉnh, lươn lẹo để con rễ lên làm đến giám đốc sở KH&ĐT...thì không thể gọi là chí công vô tư được...

    Trả lờiXóa
  7. Đồng chí Mãn là trưởng công an xã Phong An sao AHLLVT tỉnh đội lại làm

    Trả lờiXóa
  8. Tại lễ truy điệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp sáng 13/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban tổ chức lễ tang, đã đọc Lời điếu, ôn lại cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
    Có thắc mắc trong dư luận là bài điếu văn không dùng chữ "anh hùng" khi nhắc về Đại tướng, mặc dù cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đóng vai trò lớn trong hai cuộc chiến của Đảng Cộng sản chống Pháp và chống Mỹ.
    Cũng có ý kiến cho rằng việc bài điếu văn dùng chữ "nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân" là chưa đủ trong đánh giá về công trạng của Tướng Giáp. Nhưng trong lòng dân, Tướng Giáp là ANH HÙNG DÂN TỘC.
    Còn HXM thì sao?

    Trả lờiXóa
  9. Dối trá...bịp bợm.

    Trả lờiXóa
  10. Sự so sánh quá ấu trĩ, anh mãn là cánh bèo lạt lõng làm sao mà so sánh với Đại Dương ?

    Trả lờiXóa
  11. Thằng chự trâu này…khi nó có quyền thì cái chất chự trâu thể hiện càng rõ…nó nghĩ rằng ai cũng chự trâu như nó, nó viết và nói với bạn chự trâu của nó nghe mà thôi…

    Trả lờiXóa
  12. Tự hào với thành tích giết người…kể cả giết kẻ thù cũng chỉ là hạng man rợ…

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. "Kẻ thù" nếu có sĩ khí cũng đáng trân trọng, vì họ đã hết lòng tôi, trung với Chúa !
      Như Lê Trực người Tuyên hóa Quảng Bình thời Nguyễn vương, được quan chức Pháp thường tới lui thăm viếng và đối xử rất trọng thị đó sao ?

      Xóa
  13. Bộ phim Dòng sông phẳng lặng mà Mãn làm cố vấn đã khơi dậy lòng thù hận dân tộc,trái với tinh thần đại đoàn kết mà Đảng ta đã đề ra

    Trả lờiXóa