Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

Diễn trình hồ sơ chỉnh trị sông Hương


9:02 | 15/03/2012
HỮU THU - BẢO HÂN
Không ít người ở Huế thế hệ sinh năm 1950 đã từng được ngắm cái điệu đà của rong rêu, sự bỡn đùa của từng đàn cá tung tăng theo chiều con nước sông Hương.
Diễn trình hồ sơ chỉnh trị sông Hương
Vẻ đẹp Sông Hương - ảnh: LVT
Chẳng có gì để mà vội nên mỗi khi qua phố, tôi thường dừng lại ở bao lơn cầu Trường Tiền, có khi rất lâu cũng chỉ để được thoả thích với cảnh tượng hết sức sống động mà bất cứ sự mô phỏng nào vẫn không thể đạt tới.
Sông Hương thuở ấy trong. Trong như ngọc. Đến độ khi tóc đã ngã màu thi thoảng nghe lại câu ca: “Buổi trưa em che nón lá/ cá sôngHương liếc nhìn ngẩn ngơ” lòng tôi vẫn không nguôi xao xuyến và luyến tiếc về vẻ đẹp thuần khiết của một thời đã qua, đặc biệt là vào năm 2002 thay bằng trong xanh  như mọi khi thì nước sông Hương đột ngột chuyển màu, dù Huế đã qua mùa lũ.
Như một phản ứng tự nhiên, chúng tôi thực hiện hành trình để xem những gì đã và đang diễn ra ở vùng thượng nguồn của con sông này.
Trong khi ở Huế tạnh ráo, thì tại cái ngã ba nối A Lưới - Nam Đông và huyện Hiên của Quảng Nam trời vẫn mưa xối xả. Mưa nối ngày sang đêm, bởi đây là túi mưa lớn nhất nước.
Trước khi vào hầm đường bộ A Roàng, chiếc xe hai cầu chỉ nhích từng chặng một. Con đường mới mở dài chừng hai chục cây số nhưng phải vắt qua bao nhiêu là núi là đèo, có nơi cheo leo, bởi phía tà luy âm là vực sâu hun hút. Đôi lúc gặp từng tốp công nhân do núi lở làm tắc đường, chịu đói chịu rét chờ đơn vị huy động xe xúc, xe ủi san gạt mới lê bước trở về lán trại.
Mưa là kẻ thù của những người làm đường và chính nó là thủ phạm để biến cả triệu khối đất bị san ủi thành những bãi bùn, túi bùn khổng lồ men theo hàng trăm khe suối, cuối cùng đổ về dòng Hữu Trạch đủ để chuyển màu xanh của con sông Hương thành màu đặc trưng của sông Hồng!
 Đứng ở cầu Tuần hướng lên phía ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu của hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch lần đầu tiên trong đời chung tôi chứng kiến được cái sự đục - trong của hai dòng nước nên đã làm phim kêu than: “nước sông Hương biết khi mô mới trong xanh trở lại?”
Vài ngày sau khi Đài truyền hình Huế phát sóng, bất ngờ tôi nhận được điện thoại:
- Cháu có rãnh thì xuống chú chơi.
Người gọi là ông Vũ Thắng.
Dù đã nghỉ hưu hay lúc còn giữ cương vị Bí thư Tỉnh uỷ, ông Vũ Thắng là người đọc báo và xem truyền hình khá kỹ, bởi theo ông đó là kênh thông tin chính thống mà phàm là người lãnh đạo không thể không dựa vào đó để điều chỉnh hành vi.
Trong câu chuyện, chú  không trách móc hoặc góp ý gì về những vấn đề mà chúng tôi  đề cập, ông chỉ lưu ý:
- Đó không chỉ là con đường kinh tế, con đường trả ơn đối với bà con dân tộc thiểu số mà còn là con đường quốc phòng. Đất nước muốn phát triển phải chấp nhận hy sinh. Vấn đề là khi thực thi phải tính toán và tìm mọi giải pháp để hạn chế thiệt hại.
Ông Vũ Thắng đặt vấn đề: nếu đường số I bị tắc thì dựa vào đâu để chi viện khi có thiên tai, địch họa, trong khi từ Bắc vào Nam chúng ta chỉ có độc một con đường nhưng lại nằm sát biển?
Cái tâm sáng của ông giúp chúng tôi biết đợi chờ, nhất là  sau ba năm đường Hồ Chí Minh hoàn thành, nước sông Hương đã trong xanh trở lại.
Chúng tôi có duyên nợ với sông Hương từ đó.
Tôi nghe kể, sau ngày Huế giải phóng, từ Hà Nội những cựu học sinh của trường Nguyễn Chí Diễu thời kháng chiến chống Pháp rủ nhau về thăm quê. Họ thuê thuyền ngược dòng sông Hương, hướng lên vùng thượng nguồn dòng Tả Trạch để  ghé  thăm bà con ở vùng chiến khu Dương Hòa - nay thuộc thị xã Hương Thuỷ, bởi trong số họ, có người đã từng bám trụ và chiến đấu tại đây.
Chiến khu Dương Hoà hình thành vào năm 1948 sau khi  quân Pháp tái chiếm Huế. Từ chiến khu này một hệ thống đường giao liên nối với chiến khu Hoà Mỹ ở Phong Điền và Khe Tre ở Nam Đông nhằm đảm bảo sự chỉ đạo được thông suốt, bởi nơi đây là bản doanh của Tỉnh uỷ Thừa Thiên và là chổ trú quân của Trung đoàn Trần Cao Vân trong những năm chống Pháp.  Năm 1949, địch đã huy động 2.000 quân có máy bay yễm trợ nhằm xoá xổ căn cứ địa này nhưng đã bị quân và dân chiến khu Dương Hoà đẩy lùi. Trong tác phẩm “ Tuổi thơ dữ dội” nhà văn Phùng Quán đã miêu tả khá chi tiết về những năm tháng hào hùng và gian khổ ở căn cứ địa cách mạng  này.
Trong đoàn cựu học sinh trường Nguyễn Chí Diễu ngược sông Hương thăm lại chiến khu xưa thuở ấy có GS Ngô Đình Tuấn và cựu Bộ trưởng Nguyễn Chí Vu. Trên đường trở về, chính họ là những người nêu ý tưởng: muốn Huế thoát được cảnh “trời hành cơn lụt mỗi năm” phải ngăn cho được dòng Tả Trạch. Ý tưởng ấy được lãnh đạo địa phương ghi nhận và cho tiến hành nghiên cứu, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Phó Thủ tướng Trần Quỳnh là những người nhiệt tình ủng hộ, nhưng do đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, hưởng hoà bình chưa được bao lâu lại phải cầm súng để bảo vệ ở hai đầu biên giới để những thế lực thù địch mượn cớ bao vây cấm vận nên ý tưởng chỉnh trị sông Hương đành phải gác lại, bởi đó là thời điểm cả nước phải ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, vì nó là “mặt trận hàng đầu”.
Giữa năm 1976 ba tỉnh Thừa Thiên-Huế - Quảng Bình - Quảng Trị và Đặc khu Vĩnh Linh hợp nhất. Ba công trình đại thuỷ nông lần lượt được xây dựng. Ở Quảng Bình có Vực Tròn, tại Quảng Trị có đập Trấm sau này đổi thành công trình đại thủy nông Nam Thạch Hãn, còn ở Thừa Thiên-Huế có công trình  thuỷ lợi Nam sông Hương.
Để xây dựng những công trình này, ngoài lực lượng xe máy của nhà nước đảm đương thi công đầu mối, phần đào kênh dẫn nước đều do các địa phương lo liệu, lúc cao điểm lên tới hơn hai vạn người và được phiên chế theo từng đơn vị như trong quân đội. Công trường mở ra, tạo cơ hội để văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế và đó là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi ra Quảng Trị đã viết bài ký “Nam Thạch Hãn những ngày đầu tháng ba” và nhà văn Nguỵ Ngữ viết tuỳ bút ‘Tiểng nổ sau chiến tranh” sau những ngày đeo bám ở công trường thuỷ lợi Nam sông Hương ở tây nam Huế.
Trong khi Vực Tròn và Nam Thạch Hãn nhờ biết “treo nước trên đồi” nên đã sớm  phát huy được hiệu quả thì công trình thuỷ lợi Nam sông Hương do làm trái quy luật đã nhận kết cục buồn thảm.
Những ai đã từng san đồi, xẻ núi. Những ai đã đội đá, gánh đất. Những ai đã từng thắc thỏm và vượt qua sợ hãi từ tiếng nổ của bom mìn, của đêm đen ở bãi tha ma… hẳn sẽ vui sướng, khi viễn cảnh tươi đẹp về “con kênh ta đào” dần hiện ra.
Khởi nguồn từ Vạn Niên, dần dà con kênh Nam sông Hương uốn lượn qua cầu Lim  rồi vòng phía nam chân núi Ngự Bình để kết thúc ở sông Lợi Nông đúng như thiết kế.
Sau mấy năm gian khổ, nhọc nhằn, khi trạm bơm có công suất lên đến 1.000m3/h khởi động và nước từ sông Hương được đưa lên lẽ ra, đó sẽ là giây phút hạnh phúc nhất mà những người tham gia xây dựng công trình và bà con nông dân của huyện Hương Phú khấp khởi mừng thì nào ngờ, đây cũng là lúc báo hiệu công trình đã bị khai tử, mà tác nhân chính: đó là nguồn nước MẶN từ cửa Thuận trào ngược sông Hương đã len lõi và xâm nhập quá Vạn Niên.
Công trình của nóng vội, chủ quan, duy ý chí thất bại trong đau đớn.
Nhắc lại sự kiện này vì nó liên quan đến cuộc “trường chinh khổ ải” kéo dài hơn 1/4 thế kỷ chỉnh trị sông Hương từ cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21.
Xin bắt đầu.
Sau di chứng Nam sông Hương, để có nước tưới cho các cánh đồng ở Hương Phú, một loạt hồ chứa có quy mô vừa và nhỏ đã được xây dựng ở động Sầm, Châu Sơn, Phú Bài  (nay thuộc thị xã Hương Thuỷ) và sau này là hồ Truồi ở Phú Lộc.
Riêng về chỉnh trị sông Hương từ những năm đầu 1980 cho đến tận mãi sau này, vì liệu sức mình lo không xuể nên mỗi khi các vị ở Bộ Chính trị vào Huế làm việc, từ thời ông Vũ Thắng cho đến lúc ông Hồ Xuân Mãn làm Bí thư Tỉnh uỷ, trong chương trình nghị sự thế nào cũng có mục: kính đề nghị Trung ương quan tâm  ưu tiên đầu tư cho hai công trình, đó là đập Thảo Long và hồ Tả Trạch.
Đập Thảo Long nằm ở hạ lưu sông Hương thuộc địa phận huyện Phú Vang là nơi nối đôi bờ hai xã Phú Thanh (Phú Vang) - Hương Phong (Hương Trà) nhằm ngăn nguồn nước mặn từ cửa Thuận xâm nhập lên sông Hương. Công trình do hai kỷ sư Lê Tấn Hàm và Lê Đệ thiết kế và được tỉnh Bình Trị Thiên xây dựng, đưa vào sử dụng  từ năm 1978.
Những năm bình thường công trình ngăn mặn này phát huy được tác dụng  nhưng kể từ sau năm 2000, do đáy bị xói lở, cửa đóng bị hen rỉ, gặp năm hạn hán kéo dài mặn dễ dàng xâm nhập, trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống và đe dọa sản xuất.
Kỷ yếu “100 năm nhà máy nước Huế” do Công ty Xây dựng & Cấp nước Thừa Thiên-Huế ấn hành năm 2009 đã ghi chép rất kỷ diễn tiến mặn xâm nhập, nhất là giai đoạn  từ 2001-2005, trong quãng thời gian ấy thì 2003 được nhìn nhận là năm bị nhiễm mặn sớm, nặng và kéo dài nhất (bởi trước đó, ngày 19/8/2002 mặn đã vượt quá nhà máy nước Vạn Niên đến 6 km! Hàm lượng muối trong nước sau xử lý tại nhà máy Quảng Tế lúc cao nhất lên đến 1.463mg/l - tính theo NaCl, trong khi nồng độ muối cho phép trong nước sinh hoạt không vượt quá 250 mg/l)
Trước diễn biến khó lường của thời tiết, từ mùa hè 2002 Công ty Xây dựng & Cấp nước Thừa Thiên-Huế đã không khoanh tay đứng nhìn. Họ một mặt huy động 8 xe chở nước ngọt từ các nơi về cấp miễn phí cho người dân, đồng thời điều trên 300 cán bộ, công nhân của mình ra công trường. Nhờ vậy mà chỉ trong vòng 1 tuần, tuyến đường ống dài trên 8 km đã hoàn thành, kịp đưa nước từ nhà máy Tứ Hạ ở thị xã Hương Trà vào tiếp cứu cho Huế.
Chính trong khó khăn gian khổ này, Giám đốc Trương Công Nam đã cùng cộng sự nghĩ ra cách làm mới, đó là “thu nước ngọt tầng mặt mỏng” trên sông Hương để kéo dài thời gian cấp nước ngọt vào mùa hè cho người dân.
Nhờ vậy mà từ năm 2002-2005, Công ty này đã thu và sản xuất được trên 5,5 triệu m3 kịp cung cấp cho Huế và vùng phụ cận, góp phần không để xảy ra dịch bệnh và ổn định sản xuất, kinh doanh.
 Sáng kiến này không chỉ được VIFOTEC tôn vinh mà tự nó đã nói lên tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu một đơn vị anh hùng khi chủ động ứng xử với sự cố ở thế họ có thể dửng dưng hoặc đổ lỗi cho khách quan.
TS Hồ Ngọc Phú, nguyên Giám đốc Sở thuỷ lợi trong một lần hàn huyên đã cho biết:
- Cái ‘trần ai” của Thảo Long trước hết là phải trả lời cho được câu hỏi: khi có hồ Tả Trạch rồi thì liệu có cần thiết xây Thảo Long?
Thời điểm Bộ Thuỷ lợi còn tồn tại, trên thực tế công trình hồ chứa nước Tả Trạch chỉ ở giai đoạn khảo sát nên từ nhiều hướng lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên-Huế đã cố xoay xở để con đập tương lai có khoang thoát nước rộng hơn (phòng khi có Tả Trạch, chỉ cần tháo cửa van sẽ thông thoáng và tạo được vẻ đẹp của lòng sông).
Qúa trình đấu tranh, thuyết phục cứ thế giằng co. Khi các Bộ đồng tình kiến nghị Thủ tướng cho đầu tư công trình ngăn mặn này lại nảy sinh vấn đề khác.
Vin cớ đập Thảo Long chỉ là một công trình ngăn mặn lúc này do Bộ Thuỷ lợi trực tiếp quản lý nên các chuyên gia kiến nghị cầu công tác bắt qua đập chỉ rộng 2 m là vừa, trước tình cảnh đó, TS Hồ Ngọc Phú chống chế: các anh thử nghĩ mà xem: “đập dài hơn nửa cây số mà chiếc cầu lại hẹp như thế lở khi công nhân ra vận hành gió hất tung xuống nước thì sao?”.
Đang ở trong giai đoạn giằng co, Bộ Thủy lợi giải thể và nhập vào Bộ NN& PTNT.
Trong một lần ra Hà Nội, Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Xuân Mãn đến thăm Bộ trưởng Lê Huy Ngọ. Nhờ đã nắm thông tin, nên ông Hồ Xuân Mãn đề nghị Bộ trưởng Lê Huy Ngọ cho xem thiết kế đập Thảo Long.
Lúc này bề rộng của chiếc cầu bắt qua đập đã được điều chỉnh, nó tương đương với chiều rộng của cầu Thuận An cũ.
Ông Hồ Xuân Mãn nói với ông Lê Huy Ngọ:
- Anh đồng ý cho xây cầu qua đập Thảo Long là quý lắm rồi nhưng làm như thế này rất lãng phí, tại sao lại không cho mặt cầu rộng hơn, một công đôi việc. Ý  tôi muốn nói là trong xây dựng phải tính đến yếu tố kinh tế kết hợp với quốc phòng.
Ông Hồ Xuân Mãn tiếp tục: trận lũ lịch sử 1999, anh là người có mặt ở Huế sớm nhất, đã về cửa Thuận và tận mắt thấy phá Tam Giang chia cắt địa hình như thế nào. Sau khi lập lại tỉnh, Thừa Thiên-Huế chạy vạy khắp nơi mới xây được chiếc cầu Thuận An nhưng cũng chỉ đủ cho một làn xe mà phía bên kia phá Tam Giang hiện đang có hàng vạn con người đang sống trong cảnh đò giang cách trở. Đằng nào ta cũng xây nên tôi đề nghị anh ủng hộ phương án cho xây cầu to, ít nhất đảm bảo cho hai làn xe, bởi theo tính toán  từ chiếc cầu này chỉ cần nối thêm tuyến đường thì việc Thừa Thiên-Huế xây cầu Ca Cút  trong tương lai sẽ gặp thuận lợi.
Nghe Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Xuân Mãn thuyết phục, Bộ trưởng Lê Huy Ngọ đồng cảm và chia sẻ (bởi ông từng là Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hoá)  nhưng còn băn khoăn:
- Đề xuất của anh là hợp lý, nhưng ngặt nỗi cầu lớn lại thuộc lĩnh vực của Bộ Giao thông vận tải. Hai anh em mình cùng tìm cách tháo gỡ.
Được lời như cởi tấm lòng, nhân về Trung ương dự họp, ông Hồ Xuân Mãn tìm gặp Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn.
Cũng như Bộ trưởng Lê Huy Ngọ, sau trận lũ 1999, Bộ trưởng GTVT Lê Ngọc Hoàn là thành viên Chính phủ xuất hiện khá sớm ở vùng vừa trãi qua lũ dữ. Sau khi khảo sát thực tế, tháng 8/2000, chính ông là người quyết định cho hàn khẩu cửa biển Hoà Duân nhằm đảm bảo giao thông tuyến Thuận An - Tư Hiền, nếu không thì 11 xã của Phú Vang và Phú Lộc sẽ bị cô lập.
 Khi lấp cửa biển này không ít nhà khoa học từ Hà Nội đăng đàn phản đối, họ cho rằng đây là việc làm nóng vội, trái với quy luật và xem đây là hành động mù quáng, khi đem tiền tỷ đổ xuống sông xuống biển!
“Mọi lý thuyết đều màu xám. Chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi.” Thực tế của 12 mùa mưa bão sau đó cho thấy việc cho lấp cửa biển Hoà Duân là chủ trương táo bạo, khoa học và kịp thời. Nếu ngại dư luận, không biết sự thể sẽ ra sao?
Nhân nhắc chuyện Hoà Duân, không thể không nhớ đến những ngày gian khổ của anh em ngành điện.
Dưới sự “đốc chiến” của Giám đốc Bùi Hữu Thanh, các anh ở Điện lực Thừa Thiên-Huế đã không quản ngại gian khổ, ròng rã hơn nửa tháng trời dựng cột, giăng dây trên biển nước mênh mông đúng vào kỳ còn mưa rét. Quyết tâm chính trị của họ đã mang lại niềm hạnh phúc thiết thực: nhờ có điện, hàng vạn cư dân ở bên kia cửa biển Hoà Duân đã đón tết cổ truyền năm 2000 đầm ấm.
Trở lại với câu chuyện ông Hồ Xuân Mãn lobby với Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn. Trước đề nghị thiết tha của Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn ủng hộ phương án cho xây cầu đường bộ trên đập Thảo Long nhưng ông thú thật là rất quan ngại về chuyện vốn. Chính đó là nguyên do để  lần đầu tiên Thừa Thiên-Huế chủ động soạn thảo văn bản cùng các Bộ liên quan ký thoả thuận đệ trình Chính phủ.
Thủ tướng Phan Văn Khải đồng ý nhưng cho biết vì ngân sách đang thiếu hụt nên chưa thể bố trí vốn để đầu tư.
Để gỡ thế bí này, qua tư vấn của nhiều người, Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Xuân Mãn tìm gặp Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng để đề xuất xin chuyển sang dùng vốn từ nguồn trái phiếu Chính phủ.
Nhận được ý kiến đồng tình của Phó Thủ tướng Thường trực, ông Hồ Xuân Mãn tiếp tục tìm gặp Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Sinh Hùng và Bộ trưởng Kế hoạch& Đầu tư Trần Xuân Giá để tìm kiếm sự ủng hộ. Nhờ lobby kín kẻ như thế nên cuối cùng Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng đập Thảo Long với tổng mức đầu tư 152 tỷ, kết thúc hành trình nhọc nhằn để có công trình hiện đại và tiện lợi như hôm nay.
 Thảo Long là công trình ngăn mặn giữ ngọt lớn nhất Đông Nam Á, năm 1998 được Bộ Thuỷ lợi trước đây cho lập báo cáo nghiên nghiên cứu khả thi. Năm 2001 thi công  và đến cuối năm 2007 Bộ NN&PTNT bàn giao cho Thừa Thiên-Huế sử dụng.
Công trình này  do GS.TS Trương Đình Dụ làm chủ đề tài thiết kế.
Công trình có ba hạng mục chính: cống ngăn mặn, cầu giao thông rộng 10m cho phép xe có tải trọng 13 tấn đi qua và đường dẫn hai đầu.
Riêng đập Thảo Long có chiều rộng 472,5m gồm 15 khoang thoát nước, trong mỗi khoang được lắp cửa van clape trục dưới, rộng đến 31,5m, cao 4,2m, được đóng mở bằng xi-lanh thủy lực. Nhờ cửa van lớn được điều khiển hiện đại bằng máy tính nên công trình đáp ứng được yêu cầu thoát lũ và ngăn mặn kịp thời cho sông Hương. Khi việc đẩy mặn của hồ chứa Tả Trạch phát huy tác dụng, nhờ có tính toán từ trước, nếu cần có thể dễ dàng tháo dở những khoang thoát nước này, vì chúng được thiết kế rất rộng nên lòng sông vẫn đảm bảo sự thông thoáng và đẹp.
 Từ khi có đập mới Thảo Long, tình trạng mặn xâm nhập vào mùa hè ở sông Hương đã không còn tái diễn.
- Ngày 27/8/ 2009, Giám đốc Công ty Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên-Huế Trương Công Nam long trọng công bố cấp nước an toàn, trở thành địa phương đầu tiên của cả nước cấp nước an toàn  trên phạm vi toàn tỉnh.
- Ngày 26/3/2010, cầu Ca Cút (được đặt tên mới là Tam Giang) nằm ở phía bắc cửa Thuận làm lễ thông xe, ghi đậm dấu ấn của hành trình 20 năm chinh phục nhằm chấm dứt cái cảnh “ kêu như kêu đò Ca Cút”, không còn sự chia cắt địa hình giữa vùng đồng bằng và đầm phá ven biển.
Hiệu quả của công trình một lúc kết hợp hai chức năng đã phát huy tác dụng. Nó cho thấy tầm nhìn xa trông rộng và biết kế thừa khát vọng của bao thế hệ cán bộ lãnh đạo đối với mảnh đất này.
*
Mặc dù ý tưởng ngăn dòng Tả Trạch xuất hiện khá sớm nhưng do bị cuốn vào ba công trình đại thuỷ nông đang xây dựng, thêm nửa tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục chất chồng khó khăn nên trên thực tế việc chỉnh trị sông Hương nhiều năm liền đành bỏ ngỏ.
Mãi đến năm 1985, khi cơn bão Cecil tàn phá dữ dội và gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả tỉnh Bình Trị Thiên  thì vấn đề Tả Trạch mới chính thức được đặt ra.
Từ trợ lý của Bí thư Tỉnh uỷ Vũ Thắng, TS Hồ Ngọc Phú được biệt phái sang làm Trưởng ban quản lý dự án Tả Trạch.
Ông nhớ lại: Trong một lần tháp tùng cùng đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh Bình Trị Thiên ra Hà Nội làm việc về kế hoạch tái thiết sau bão, Bí thư Tỉnh uỷ Vũ Thắng chính thức đề nghị Chính phủ lưu tâm giúp địa phương xây hồ Tả Trạch nhưng  đến khi Phó Thủ tướng Đỗ Mười hỏi đã có kuận chứng kinh tế kỷ thuật gì chưa thì cả đoàn mới vỡ lẽ ra là chưa có gì. Tại buổi làm việc hôm đó, lần đầu tiên TS Hồ Ngọc Phú chứng kiến “ông Đổ Mười quyết ngang cho Bình Trị Thiên 25 triệu”.
- Nhờ có số tiền này mà Ban quản lý chúng tôi mới dám thuê thiết bị khảo sát thăm dò, tạo cơ sở khoa học để lãnh đạo địa phương đề xuất Trung ương cho làm hồ Tả Trạch - TS Hồ Ngọc Phú khẳng định.
Hoá ra việc ngăn dòng Tả Trạch chỉ mới là ý tưởng, chứ sự thực chưa ai đặt chân lên thực địa để xem tương lai hồ chứa sẽ định vị ở đâu và quy mô như thế nào.
Khi “bức phát thảo” về công trình tương lai hình thành thì ba tỉnh chia tách tái lập như cũ, đồng thời diễn ra biến cố Đông Âu.
Từ Ban quản lý, TS Hồ Ngọc Phú được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Thuỷ lợi và đối với ông vấn đề Tả Trạch đã trở nên thứ yếu, bởi khi ra Bộ bảo vệ, dưới con mắt của các chuyên gia thì Tả Trạch chỉ là công trình phục vụ nông nghiệp mà đã là nông nghiệp thì phải xếp hàng, bởi so với trong Nam, ngoài  Bắc và kể cả Tây Nguyên thì mấy mươi nghìn ha lúa của Thừa Thiên-Huế  không là gì cả!
Tưởng mọi việc đã xếp xó, nào ngờ giữa năm 1994 sau khi đưa Thủ tướng Võ Văn Kiệt về khảo sát vùng Chân Mây và sau đó thăm di tích Huế, trong buổi làm việc với đoàn công tác của Chính phủ, ông Vũ Thắng lại đặt vấn đề với Thủ tướng Võ Văn Kiệt:
- Anh coi, Di tích Huế vừa được UNESCO công nhận là di sản thế giới vậy mà năm mô tụi tôi cũng lo dọn bùn. Lụt Huế dữ lắm, nước ngâm lâu ngày nên di tích rất mau xuống cấp. Vì chuyện về lâu về dài, chúng tôi tha thiết đề nghị anh quan tâm cho cái Tả Trạch.
Có lẽ lối nói mộc mạc của một cựu đại tá quân đội, lại từng trãi qua ba nhiệm kỳ liên tiếp giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy đã làm cho Thủ tướng động lòng và sau buổi làm việc ấy, với kết luận ủng hộ của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, trên thực tế Tả Trạch đã được Chính phủ quan tâm và tại đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9, công trình Tả Trạch đã được ghi vào văn kiện.
Trong khi chờ đợi công trình trị thuỷ lớn nhất sông Hương triển khai thì đầu tháng 11/ 1999, Thừa Thiên-Huế hứng chịu trận lũ lịch sử, mực nước ở Huế dâng cao đến 5,94m đã làm cho 372 người bị chết và mất tích và nền kinh tế-xã hội của địa phương hoàn toàn  bị đảo lộn. Nước lũ dâng cao và chảy xiết đã xé toạc doi đất Hoà Duân tạo nên cửa biển mới ở Phú Vang. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cấp tốc bay vào thị sát. Qua vận động của ông, Quân khu 4 đã cho xây dựng Làng Rồng làm nơi định cư mới cho 64 hộ có nhà bị lũ cuốn trôi ở Hoà Duân.
Gần hai năm sau, vào tháng 8/2001, khi đập Thảo Long đang ở giai đoạn chuẩn bị khởi công, đoàn công tác của Chính phủ do Thủ tướng Phan Văn Khải dẫn đầu vào làm việc tại Thừa Thiên-Huế.
Khi bàn về công trình trị thuỷ lâu dài cho sông Hương, tưởng mọi sự sẽ thuận buồm xuôi gió, nào ngờ cho đến lúc này vẫn có ý kiến đâm thọc: nếu làm Tả Trạch thì cần gì phải cho làm Thảo Long, vì Tả Trạch có chức năng đẩy mặn rồi.
Không nín chịu được, lần đầu tiên tôi thấy Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Xuân Mãn nổi nóng:
- Tôi lạy Chính phủ, có ai trả lời cho chúng tôi biết đến khi nào thì Tả Trạch xây dựng xong? Không lẽ cứ để dân Huế chịu trận mãi? Mặn lên, sản xuất tiêu và dịch vụ cũng tiêu. Sống chung với mặn, với lũ kiểu này, không cất đầu lên được.
Trước phản ứng gay gắt của địa phương, cuối cùng Thủ tướng Phan Văn Khải kết luận: không chỉ đồng ý cho Thừa Thiên-Huế xây Thảo Long mà còn chấp thuận cho xây dựng hồ chứa nước Tả Trạch từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản, thông qua cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật mà ta thường gọi là tổ chức JICA, nơi mà Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JIBIC) đảm trách việc cho vay vốn.
Sau  khi có quyết định của Thủ tướng, đã có nhiều hội thảo do JICA phối hợp với Thừa Thiên-Huế tổ chức nhằm tìm nguồn vốn để đầu tư cho công trình này, nhưng có lẽ do JIBIC – ngân hàng  hợp tác quốc tế Nhật Bản cung cấp vốn cho JICA chưa sẵn sàng nên chuyện vốn cứ lần lữa mãi.
Bên lề hội thảo đã có chuyên gia nước ngoài nêu e ngại có loài cá sống ký sinh nhờ rêu đá sẽ bị tuyệt chủng nếu xây hồ Tả Trạch... Nghe chuyện, ông Hồ Xuân Mãn nổi đoá: - Có con gì to và quý hơn con người!  
Thấy tình thế đang khó, nhân dịp ra Trung ương họp, ông Hồ Xuân Mãn mời Uỷ viên Bộ chính trị Trương Tấn Sang, lúc này đang giữ cương vị Trưởng ban kinh tế Trung ương vào thăm, khảo sát vùng Tả Trạch, qua đó vận động, tìm kiếm sự ủng hộ để công trình sớm được triển khai từ nguồn vốn khác chứ không ngồi chờ nguồn ODA.
Được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đoàn Mạnh Giao “bật mí”, Bí thư Hồ Xuân Mãn lại tìm đến nhà riêng Thủ tướng Phan Văn Khải.
Thấy Bí thư Hồ Xuân Mãn, Thủ tướng đùa hỏi:
-Mày đến hối lộ anh ấy à!
Ông Mãn xởi lởi:
-Thưa anh! Biết tin anh có cháu ngoại, em đến thăm và chúc mừng ông ngoại, đồng thời cám ơn Thủ tướng đã bố trí vốn trái phiếu cho hồ Tả Trạch.
Để có nguồn vốn này là cả quá trình trăn trở tìm tòi đầy nhọc nhằn, gian khổ và nhẫn nại. Nhưng bằng tâm huyết và quyết tâm chính trị của lãnh đạo địa phương mà đứng đầu là Bí thư Tỉnh uỷ nên công trình hồ chứa nước Tả Trạch đã được triển khai trên thực tế.
Ngày 16/11/2005, cả tỉnh đón tin vui khi Phó Thủ tướng Vũ Khoan chính thức phát lệnh khởi công xây hồ chứa nước Tả Trạch.
 Lúc đầu, công trình dự kiến đầu tư 2000 tỷ nhưng sau 7 năm thi công, do trượt giá nên nguồn vốn đầu tư đã tăng gần gấp đôi, tức gần 4000 tỷ đồng, trong đó có 142 tỷ của Thừa Thiên-Huế dùng để di dời, giải toả 850 hộ dân ra khỏi khu vực lòng hồ.
Đúng như phát biểu của Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hoàng Văn Thắng tại lễ chặn dòng Tả Trạch đợt cuối diễn ra sáng 13/1/2012: “Có được kết quả như hôm nay là cả một chặng đường đầy trăn trở, nỗ lực đấu tranh của các thế hệ cán bộ qua nhiều thời kỳ”, bởi hồ Tả Trạch “được nghiên cứu, quy hoạch từ nhiều thập kỷ trước và đến năm 2005 được triển khai xây dựng, đó là quá trình kế thừa và phát triển của bao thế hệ đàn anh đi trước”
Hồ Tả Trạch có dung tích chứa 650 triệu m3 nước. Để ngăn dòng Tả Trạch các đơn vị thi công đã đắp con đập dài hơn 1 cây số với chiều cao lớn nhất lên tới 56m.
Dự kiến công trình  được đưa vào sử dụng năm 2013.
Để xây dựng công trình này, Phó chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Hoàng trước đây và sau này là Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Xuân Mãn triển khai quyết liệt và đồng bộ nên 850 hộ dân của khu vực lòng hồ đã được bố trí tái định cư ở Lương Miêu, Bình Thành và Bến Ván theo phương châm: nơi ở mới tốt hơn nơi ở cũ, nhờ vậy mà khi triển khai công trình không gặp phải trở ngại nào, nhất là chuyện đền bù giải toả.
Trong một lần vào thăm, sau khi kiểm tra công tác tái định cư cho các hộ dân di dời khỏi lòng hồ Tả Trạch, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói với các Bộ trưởng: “Nếu tỉnh nào Bí thư Tỉnh uỷ cũng ra tay làm trưởng ban chỉ đạo công tác đền bù giải toả như ở Thừa Thiên-Huế thì Chính phủ sẽ đỡ gặp rắc rối.”
Trong khi mọi việc đang tiến hành suôn sẽ thì bất ngờ cuối năm 2009, phía vai phải của đập tràn hồ Tả Trach gặp sự cố buộc phải dừng thi công chờ các chuyên gia hàng đầu tìm phương án xử lý tình trạng nứt gãy ngược chiều mái đào, hiện tượng trái với quy luật.
Đúng như chuyên gia hàng đầu của ngành thuỷ lợi Việt Nam TS Phan Sỹ Kỳ nhận xét: “Tả Trạch chưa phải là công trình thuỷ lợi lớn nhất nhưng địa chất lại phức tạp nhất.” Tả Trạch không hoàn thành đúng như dự kiến cũng vì lý do đó.
Khẳng định điều này, phát biểu tại lễ chặn dòng đợt cuối (đợt 2), Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế Nguyễn Văn Cao ghi nhận: “Qua theo dõi và đồng hành trong quá trình thực hiện dự án, chúng tôi rất vui mừng nhận thấy rằng, mặc dù gặp nhiều trở ngại, khó khăn về thời tiết, điều kiện địa hình địa chất hết sức phức tạp, gây rất nhiều trở ngại trong việc tổ chức thi công và những khó khăn nhất định về nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình; nhưng với quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thừa Thiên-Huế, chủ đầu tư và các đơn vị thi công, các đơn vị tư vấn cùng với sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, của lãnh đạo Bộ NN&PTNT và các Cục Vụ của Bộ để công trình đạt được những mốc tiến độ quan trọng… Phải nói rằng công trình Tả Trạch là công trình có địa chất phức tạp trong các công trình có địa chất phức tạp nhất Việt Nam. Công trình nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học hàng đầu về thuỷ lợi của Việt Nam. Chúng tôi trân trọng và ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của các nhà chuyên môn, nhà khoa học đối với sự thành công của công trình.”
Cách đây không lâu, vào tháng 3/2009, khi đến thăm công trình xây dựng hồ chứa Tả Trạch, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc đó đang giữ cương vị Chủ tịch Quốc Hội đã nói với đội ngũ cán bộ quản lý, tư vấn và các đơn vị thi công: “Các anh không nên chạy theo thành tích mà phải ưu tiên đặt chất lượng công trình lên hàng đầu, bởi khi làm công trình này các anh phải luôn nghĩ ở phía hạ lưu sông Hương là hàng vạn con người. Tính mạng của họ cần được đảm bảo.”
Theo ông Nguyễn Văn Sáu, Giám đốc Ban quản lý dự án Tả Trạch: ngoài tạo nguồn ổn định cho 34.800 ha đất canh tác, tạo nguồn cấp nước sinh hoạt và công nghiệp với lưu lượng 2m3/s, đồng thời bổ sung 2,5m3/s để đẩy mặn cho sông Hương vào mùa hè thì với sức chứa đến 650 triệu m3 nước, hồ Tả Trạch sẽ giúp Huế thoát được lũ tiểu mãn. Riêng lũ chính vụ, vùng hạ lưu sông Hương khi có lũ thông thường sẽ giảm  từ 1,1 - 1,5m.
Nếu hồ thuỷ điện Bình Điền tham gia (có dung tích trên 400 triệu m3 nước) thì chắc chắn lũ ở Huế sẽ còn giảm hơn nửa.
*
Và đến lúc này, khi hai công trình trị thuỷ lớn nhất ở đầu và cuối sông Hương đã và đang hoàn thành thì vấn đề duy trì hay cho tháo dỡ hệ thống cống đập hiện hữu được đưa ra bàn thảo, dù chưa có kết luận cuối cùng.
Hồ Tả Trạch ngoài chức năng điều tiết lũ, trên lý thuyết còn đảm nhận vai trò đẩy mặn cho sông Hương với lưu tốc 2,5m3/s.
Những đập ngăn mặn được xây trước đây như đập Hậu, Đập Đá, cống Phú Cam, đập La Ỷ… liệu có nên duy trì một khi sông Hương đã có cả Thảo Long lẫn Tả Trạch?
Theo khuyến nghị thì đã đến lúc chúng ta tính đến việc tháo dỡ các cống đập nói trên nhằm trả lại chức năng tiêu thủy khá hoàn hảo của hệ thống sông ngòi ở Kinh thành Huế, đặc biệt là cứu vãn các dòng sông đào đang chết dần chết mòn bởi bồi lắng và ô nhiễm.
Huế là thành phố du lịch. Thử hình dung, nếu cho phá dỡ Đập Đá và xây ở đó một cây cầu thật đẹp thì du khách đến thăm thành phố lễ hội này sẽ có thêm một điểm ngắm, đặc biệt vào lúc chiều tà hoặc giữa đêm hè, những làn gió mang hơi nước mát lành của dòng sông Hương sẽ xua tan cái oi bức còn rớt lại của cái nắng tháng ba, tháng bảy (thực tế đêm bế mạc Festival nghề truyền thống gần đây, qua truyền hình sông Hương thật sự hoành tráng với hoa đăng huyền ảo như sao sa).
Và cũng từ nơi này, du khách sẽ có cơ hội theo thuyền xuôi dòng Như Ý để về vùng cầu ngói Thanh Toàn thưởng ngoạn cảnh đẹp của đôi bờ. Tương tự như vậy, nếu tháo dỡ cống Phú Cam, tuyến sông An Cựu - Lợi Nông sẽ trỗi dậy sức sống của những vùng quê, gắn với đô thị sinh thái tương lai mà cả tỉnh Thừa Thiên-Huế đang phấn đấu xây dựng.
Sau khi chia tỉnh, lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên-Huế đã làm một việc cho tương lai, đó là mời đích thân KTS Nguyễn Trọng Huấn về Huế chủ trì đồ án quy hoạch đôi bờ sông Hương.
Cũng cần biết thêm, KTS Nguyễn Trọng Huấn là “dân Mệ” đi tập kết, sau giải phóng trên cương vị Trưởng phòng quy hoạch của Sở Xây dựng Bình Trị Thiên với tư cách là người phản biện, ông đã phản đối quyết liệt dự án xây dựng nhà máy dệt Huế, lúc đó dự định đặt ở Hương Hồ. Lý lẽ ông đưa ra (công nghệ  thời đó dệt đi liền với nhuộm): sau khi nhuộm nước của nhà máy sẽ  thải vào dòng Bạch Yến chảy về sông An Hoà rồi “tuốt tuộc đổ ra ngả ba Sình”. Thủy triều lên, cái màu đen hắc hám ấy sẽ bị đẩy ngược trở lại. Thử hỏi, sông Hương lúc đó có còn là sông Hương?
Trước lập luận vững chắc của ông, cuối cùng Bộ Công nghiệp nhẹ thỏa thuận với địa phương chuyển vị trí xây dựng nhà máy về Thuỷ Dương như hiện nay.
Có thể phải mất vài mươi năm nửa, ý tưởng về quyền được nhìn vẻ đẹp của dòng sông Hương cũng như sự trầm mặc của hoàng thành Huế của KTS Nguyễn Trọng Huấn mới trở thành hiện thực, song bằng tình yêu của mình trên thực tế chúng ta đang từng bước triển khai các ý tưởng đó, đặc biệt là từ năm 2000, khi Huế trở thành thành phố FESTIVAL của Việt Nam.
Cùng với chỉnh trang đô thị, đôi bờ sông Hương đã trở nên giàu có nhờ hàng trăm bức tượng do các nhà điêu khắc trong và ngòai nước về Huế sáng tác trong mỗi dịp FESTIVAL. Huế trở thành nơi có vườn tượng phong phú và khổng lồ (phải kể thêm số tác phẩm của nhà điêu khắc quá cố Điềm Phùng Thị trước đó đã hiến tặng). Thêm nữa, công chúng yêu nghệ thuật mừng vui vì sau hơn ba thập niên bị “vây hãm” trong không gian chật chội ở dốc Bến Ngự, tượng cụ Phan Bội Châu đã được quyết định đưa về đặt trang trọng ở bờ nam cầu Trường Tiền, chấm dứt một thời gian dài tranh cãi triền miên. Kèm theo đó, di nguyện của cố hoạ sỹ Lê Thành Nhơn đã thành hiện thực khi bức tượng “Cô gái Việt Nam” đã xuất hiện bên bờ dòng thơ mộng “để nó được tắm chút nắng, hưởng chút gió của sông Hương”.
Trong khi chưa đủ sức để đầu tư xây dựng thì Huế đã cố gắng bảo vệ và chỉnh trang dòng sông như cho ke bờ những đoạn bị sạt lỡ và tiến hành nạo vét những đoạn đã bị bồi đắp, tạo thảm cỏ bờ sông đoạn qua trung tâm thành phố... Gần đây, để chấn chỉnh nạn khai thác cát sạn bừa bãi, chính quyền các cấp đã ra tay ngăn chặn và đang quy hoạch lại.
Và cũng nhờ kịp thời đóng cửa rừng, tạo động lực để nhà nhà trồng rừng , người người trồng rừng nâng độ che phủ lên gần 57% đã góp phần hãm lũ và giữ cho nguồn nước sông Hương trong xanh.
Cầu đường bộ bắc qua sông Hương đoạn phía trên Cồn Giả Viên theo dự kiến sẽ thông xe vào năm nay. Dù cầu chưa đặt tên nhưng với những vọng lâu được xây dựng cho thấy dụng ý của tác giả đã thực thi triệt để quyền được nhìn của mọi người. Đó là những tín hiệu đáng mừng, dù chúng diễn ra với nhịp độ thủng thẳng mang lại cảm giác như không thay đổi gì.
Khi đặt chân lên chiếc cầu mới xây, chúng tôi có ao ước: nếu điều kiện cho phép chúng ta nên tháo dỡ cầu Phú Xuân ở phía hạ lưu (được chính quyền Sài Gòn xây vội sau xuân 1968 để đối phó với chiến trường Quảng Trị) nhằm tạo sự thông thoáng và đủ độ dài để tổ chức các trò chơi liên quan đến không gian, cần thiết kiến nghị Bộ GTVT cho di dời luôn cả chiếc cầu xe lửa ở phía thượng  lưu và đưa tuyến đường sắt ra khỏi nội đô vừa hạn chế ùn tắc giao thông vừa mở mang phố thị vùng tây nam Huế.
Tương tự như vậy, tháp nước ở cồn Giả Viên đã đến lúc chấm dứt sự tồn tại lịch sử của nó để  Giả Viên sẽ trở thành một công viên và Hương giang xứng danh với tên gọi mà nhiều người đã xưng tụng: dòng sông thi ca, nhạc họa, người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở. Dòng sông di sản...
Huế, đầu xuân Nhâm Thìn
H.T - BH
(SH277/3-12)

Trung tướng Nguyễn Hữu Cường

Khoảng 5h30 ngày 17.1, sau gần 12 tiếng đồng hồ đầy căng thẳng, các lực lượng công an, quân đội đã cứu được cô gái bị bắt làm con tin và bắt giữ đối tượng phạm pháp gây án tại nhà nghỉ Như Thành, đường Cao Xuân Dục, phường Vĩ Dạ, thành phố Huế.
Đêm 16/1/2010, Trung tướng Nguyễn Hữu Cường, Tư lệnh Quân khu 4 đã hỏa tốc vào Huế và trực tiếp chỉ huy chính vụ việc. Cùng phối hợp là Thiếu tướng Nguyễn Thanh Toàn - GĐ Công an TP Huế, Thượng tá Đặng Ngọc Sơn - Trưởng CA TP Huế, Đại tá Đặng Ngọc Nghĩa - Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Bí thư tỉnh ủy Hồ Xuân Mãn đại diện tỉnh cũng đã có mặt từ rất sớm. 

Minh, không cần phải chết.

Có nhiều ý kiến cho rằng cần phải giải quyết nhanh, không nên để qua đêm. Vì đến ngày hôm sau, đối tượng sẽ thuận lợi hơn với ánh sáng.
Tướng Cường đã phải cân nhắc rất kỹ các phương án đưa ra. Các cửa sổ được đo từng khung để tính toán hình thức phá cửa.
Lựu đạn cay cũng phải hạn chế vì dùng nhiều trong phạm vi hẹp sẽ dễ gây ra tử vong cho con tin và đối tượng.

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

LẠI CÓ TIN ĐỒN








Chân dung một lãnh đạo "khổ" nhất và "sướng" nhất

Nguyễn Bá Thanh 

Thứ sáu 04/01/2013 20:08
L.H

Tuổi thơ gian khó

Anh Nguyễn Bá Thanh mồ côi cha từ rất sớm. Ba anh mất trong một cuộc chống càn của quân đội Mỹ. Đến giờ, nhiều người vẫn nhắc về tấm gương hy sinh của ông: Anh dũng chống trả quyết liệt và hy sinh khi không còn một viên đạn. Ông đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng. Ba anh khi đó đã là Tỉnh ủy viên và ông cũng chỉ có mong ước con sẽ tiếp tục sự nghiệp của mình. Khi ông mất, Bình, cậu em kế anh Thanh mới tròn 4 tuổi, chưa biết gì nhiều. Còn anh Thanh thì khi đó đang học ở ngoài Bắc ở trường Học sinh Miền Nam.

Xách ba lô ra Bắc học tập, anh Bá Thanh không ngờ mình lại ở ngoài Bắc lâu đến vậy. Tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp, trở về Đà Nẵng, sau một thời gian làm tại Sở Nông lâm, anh Thanh nhận công tác tại một trong những nông trường xa xôi và khó khăn nhất cả nước. Khổ cực trăm bề, má anh chỉ nhắc anh một câu: “Hãy ráng lên, con ạ!”.

Câu nói bình dị đó đã đi theo anh Thanh, vượt qua được muôn vàn những thử thách cam go của cuộc sống. Cũng chính cuộc đời của người vợ liệt sĩ đó đã là tấm gương sáng rõ nhất cho cậu con trai của mình.

Người của công chúng

Tôi và anh Thanh gặp nhau lần đầu, trong một hoàn cảnh rất đặc biệt: mẹ anh đang ốm thập tử nhất sinh tại bệnh viện. Anh nói với tôi: “Anh chỉ có một nguyện vọng duy nhất, cứu mẹ anh sống thêm". Nhưng phải nói rằng, khuôn mặt thô ráp và thân hình to lớn như gấu của anh khiến tôi hơi e ngại. 


Ông Nguyễn Bá Thanh trên nghị trường

Sau đó vài tuần, tôi có dịp vào Đà Nẵng để tổ chức tuần trăng mật của con một gia đình người bạn thân. Trong lúc đi taxi, ngồi quán nước, hoặc đi chợ, nghe người dân kháo nhau… tôi mới hiểu rõ hơn về anh. Hoá ra anh là người của công chúng theo đúng nghĩa của từ này: Nhân dân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, họ yêu và quý anh biết bao. Đừng hòng ai bắt dân Đà Nẵng nói xấu được “vị chỉ huy” của họ. 

Những dịp anh phát biểu tại Hội đồng Nhân dân đều được truyền hình trực tiếp và mọi người đều tạm gác công việc lại để nghe anh nói. Số điện thoại của anh được công khai cho mọi người dân để họ có thể gọi điện trực tiếp cho anh. Khi nhận được thông tin nào đáng lưu ý, anh bèn đóng giả làm dân thường đi xuống tận nơi, ngồi ăn uống tại quán như một người khách để nghe cụ thể xem những khiếu nại đó có đúng không?

Cán bộ của anh rất liêm chính bởi anh rất nghiêm. Khi giao những vị trí nhạy cảm cho các cán bộ trẻ, anh nói ngay: Muốn có tiền ngay thì tham nhũng và đòi tiền của dân, nhưng sẽ không bền. Nếu làm việc trong sạch thì sẽ nghèo, nhưng, sau một thời gian sẽ được giao những vị trí then chốt và tiến lên nữa… tuỳ chọn. Và hầu hết các nhân viên trẻ, có năng lực của thành phố này đều chọn con đường thứ hai.

Thời gian hoàn thành các thủ tục hành chính ở Đà Nẵng rất nhanh. Từ khi bạn mua đất hoặc nhà đến khi cầm trong tay sổ đỏ chỉ mất không quá 1 tháng. Trong khi ở rất nhiều địa phương khác thường là vô định… vì không ai có thể dám quả quyết rằng trong bao lâu mới xong. Nhà tôi ở khu Trung Hoà Nhân Chính - Hà Nội. Tôi mua đất năm 2001, xây nhà năm 2005, về đây ở năm 2006, vậy mà từ đó đến nay sổ đỏ vẫn chưa có. Có cán bộ nói với tôi, muốn có nhanh, phải lo chuẩn bị “phong bì”… 

Còn ở Đà Nẵng? Tôi nhớ một kỷ niệm gắn liền với anh Thanh. Trong một lần gặp mặt, tôi trót phàn nàn một câu về tiến độ giấy phép xây dựng của bạn tôi trước mặt anh Thanh. Anh lập tức rút điện thoại ra nói mát mẻ với cậu phụ trách: "Vừa mới lên được là thành phố hàng đầu về thủ tục thông thoáng, nhanh chóng cho các nhà đầu tư, giờ lại muốn quay xuống à?". Một lúc sau cậu ta gọi ngay cho tôi xin lỗi rồi nói: Lần sau chị cứ gọi thẳng cho em nhé, đừng gọi cho sếp, kẻo bọn em lại bị phê bình đấy.

Anh Thanh giải quyết việc rất nhanh và quyết liệt như vậy. 

Còn nhớ, trong lần đầu vào Đà Nẵng, tôi nhờ anh dẫn đến thăm đền thờ vị anh hùng Thoại Ngọc Hầu, người có công chủ trương, xây nên kênh Vĩnh Tế, hoạch định biên giới Việt Miên nhưng phải chịu bao oan trái ngay cả sau khi đã qua đời. Ngôi đền nằm ở ven bờ sông Hàn. 

Tại đây, anh nói dự định mời “Thần đèn” Cẩm Luỹ đến để nâng ngôi đền lên vì sau hàng trăm năm, ngôi đền ở vị trí thấp so với xung quanh, tường đã ải và ngấm nước, tôi gợi ý: “Sao anh không xây lại cho đẹp hẳn? Ông Thoại – có công với đất nước biết bao”. Anh suy nghĩ một lúc rồi gật đầu cương quyết. Và chỉ một thời gian ngắn sau đó, thành phố Đà Nẵng đã có thêm một ngôi đền khang trang, đẹp đẽ để tưởng nhớ vị anh hùng ngay tại quê hương. 

Tôi cảm phục anh lắm, vì anh dám quyết, dám làm, quyết nhanh và làm cũng nhanh. Khi họp tổ dân phố, những người sống quanh đền đều tự nguyện ra đi để mở rộng sân đền, có chỗ chơi cho trẻ em quanh đấy. Tất nhiên cũng bởi vì chính sách đền bù của thành phố thoả đáng. Thời gian ngắn sau đó, tôi vào thăm lại Đà Nẵng, con đường đất trước mặt ngôi đền cũng đã được trải nhựa rất đẹp, mang tên Hà Thị Thân.

Những quyết sách gây tranh cãi...

Nhiều việc làm, quyết sách của anh gây không ít tranh cãi, cũng vì quá tiên phong và không giống ai: Nào là khởi đầu phong trào cấm đối tượng lang thang cơ nhỡ ăn xin, ăn mày trong thành phố, cấm đeo bám khách du lịch, quay camera CSGT, tăng lương cho CSGT, thưởng cho người báo tin… toàn những việc, với nhiều người là rất lạ đời. 

Trong nhiều lần giải phóng mặt bằng tại thành phố, anh đều trực tiếp có mặt và đứng ở ngay hàng đầu, mặc bộ quần áo công nhân, trực tiếp điều đình với những người phản đối. Anh chẳng nề hà chuyện gì. Bởi vậy, dân rất nể và sợ cái uy, những hành động quyết liệt của anh. Nhưng theo tôi biết, chẳng phải ai cũng thích những sự “ làm tới” của anh đâu. Nhưng một điều không thể phủ nhận, người dân tại nhiều tỉnh thích địa phương mình cũng có một ông lãnh đạo giỏi và quyết liệt như vậy… Để khỏi bụi, khỏi kẹt xe, khỏi khổ về nạn giấy tờ, nhũng nhiễu… 

Nhưng bảo anh làm khác đi, cũng giống như mọi người, cũng mềm mỏng, cũng tròn trịa, hợp thời… chắc còn khó hơn bắt anh xông lên hàng đầu trong cuộc chiến. Anh bảo: "Trong trận đá bóng, 11 anh, ai cũng thích làm hậu vệ, cứ đợi nhau, cứ chặn và vờn bóng thì còn gì là trận đấu? Phải có anh xông lên, sút bóng thì mới ra bàn thắng chứ". Và anh chắc chắn vào cái chân trung phong đó rồi. 

Cũng nhiều người nói: Đội bóng đá Đà Nẵng luôn gắn liền liền với hình anh anh Nguyễn Bá Thanh. Anh chẳng bỏ trận nào của “đội nhà”, kể cả đang họp ở Hà Nội, nếu tranh thủ được, anh cũng bay về để ủng hộ. Thắng thua gì, khi kết thúc trận, anh cũng xuống sân rút kinh nghiệm cùng cả đội. Bởi vậy đội bóng đá Đà Nẵng có thêm một huấn luyện viên danh dự Bá Thanh. 

Nói rằng anh là vị cán bộ sướng nhất cũng đúng. 

Vì làm được nhiều việc nên anh được bà con quý mến lắm. Sau này khi đã trở nên thân thiết, mỗi lần tôi vào Đà Nẵng hoặc anh ra Hà Nội họp, chúng tôi thường ngồi ăn uống nói chuyện. 

Chúng tôi tâm sự về tương lai phát triển của Đà Nẵng, về những cây cầu, những con đường, những kế hoạch triển khai cho tàu điện ngầm, về những lần thi bắn pháo hoa tưng bừng… Chúng tôi cùng anh chia sẻ những ước mơ về một thành phố Đà Nẵng tương lai – thành phố đáng sống nhất của Việt Nam… Rồi chúng tôi bàn về đất nước, về sự phát triển của nông nghiệp - lĩnh vực đúng chuyên môn của anh, về việc cần người điều hành để thúc đẩy mạnh mẽ hơn, về những kế sách để giúp nông nghiệp Việt nam phất triển, để “cứu” Hà Nội khỏi kẹt xe… Tôi phục anh lắm, anh luôn nghĩ ra những kế rất hay mà khó ai nghĩ tới… 

Không ít lần, khi ra trả tiền cho bữa ăn, chúng tôi nhận được một mảnh giấy có ghi những dòng chữ như:

“Xin cho phép tôi được mời anh Bá Thanh bữa cơm này, tôi tuy ở Hà Nội nhưng là dân gốc Đà Nẵng. Anh đã làm được nhiều việc cho thành phố quê hương lắm. Xin cảm ơn anh.”

“Anh Thanh ơi, tuy không quen anh nhưng đã được nghe anh nói rất nhiều trên vô tuyến. Cảm ơn anh, một con người dũng cảm. Xin được mời anh bữa ăn này - một người bạn không quen biết”.

Họ là ai? Là người Hà Nội, Đà Nẵng hay là một người Việt Nam nào đó đã từng đi qua Đà Nẵng và cảm phục sự đổi thay thần kỳ của thành phố này cũng như vai trò của vị "nhạc trưởng" Bá Thanh? Tôi biết những lúc như vậy anh cũng vui lắm.

Dịp cuối năm vừa qua, tôi rẽ qua Đà Nẵng một ngày để bàn bạc việc tổ chức đưa lô thuốc viện trợ từ Mỹ về cho các bệnh nhân nghèo tại các tỉnh miền Trung. Không ngờ cái việc nghe rất đơn giản đó lại vấp phải những rào cản vô hình từ nhiều cấp. May quá, có Bệnh viện Đà Nẵng và anh gật đầu nhận giúp. Thế là lô thuốc viện trợ trị giá 14 triệu USD mới tìm được đường về VN.

Cũng thời điểm này, tôi lại nghe được tin anh sắp ra Hà Nội giúp dân, giúp Đảng. 

Cô con nuôi Nguyễn Thị Huyền - Hoa hậu Việt Nam, người hàng năm vẫn làm show Lung linh sắc Việt tại Đà Nẵng để gây quỹ cho bệnh nhân nghèo tại đây, reo lên một cách rất thực thà: “Hoan hô, bác Thanh – thần tượng mà con ngưỡng mộ bấy lâu nay sắp ra Hà Nội rồi”. 

Chắc nhiều người dân Việt Nam cùng có chung niềm vui và hy vọng như vậy. Tôi nhắn tin cho anh: "Tối nay em sẽ mang hoa tới chúc mừng!". Nhưng khi ra đến chợ, tôi đã chuyển sang mua hoa và quả để thắp hương cho mẹ anh. Bởi, tôi hiểu, chính bà là động lực đã giúp con mình thành công như ngày hôm nay. 

Khi tôi tới, anh Nguyễn Bá Thanh đang ngồi một mình. Vui buồn, thắng thua người đàn ông này đều vậy, lặng lẽ ngồi hút thuốc. Tôi tới, cắm hoa vào bình trên ban thờ, thắp nhang cho bà, rồi yên lặng ngồi xuống bên anh. Người anh kiệm lời nhìn tôi, chúng tôi lặng lẽ hồi tưởng lại cả quãng thời gian vất vả vừa qua, những oan trái, những vùi dập, những cố gắng, những sẻ chia và biết bao thách thức phía trước… Chúng tôi chia tay và lần đầu tiên hai anh em ôm nhau vì những xúc động trào dâng.

Lúc tôi về, ra đến cổng, trời đã tối muộn, tôi vẫn thấy có hai người dân chờ đợi để vào xin gặp anh. Hóa ra hôm nay theo lịch – vẫn là ngày anh tiếp dân tại nhà vào buổi tối (tất cả các ngày trừ thứ bảy, Chủ nhật), người công bộc của dân lại lắng nghe để thấu hiểu và giải quyết thật nhanh những thắc mắc của người dân.

Chính anh đã là đầu tàu, kéo mọi người về với Đà Nẵng, đóng góp hết sức mình cho sự đổi thay kỳ diệu của mảnh đất này. Tôi nhắc mình phải tiến hành khẩn trương hơn cho việc vận chuyển gói hàng viện trợ trang thiết bị cho Bệnh viện Ung bướu. Bệnh viện này là tâm huyết do anh khởi xướng, dự kiến sẽ mở cửa chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo toàn bộ khu vực miền trung vào tháng giêng này. Tôi biết, anh rất tự hào về công việc này.

Về đến khách sạn rồi, tôi vẫn chưa hiểu nổi sự lạ lùng của cuộc đời, tôi gọi điện thoại hỏi lại anh: "Điều gì đã đưa em vào tận mảnh đất Đà Nẵng này để làm em của anh thế nhỉ?". Anh đáp rất giản dị: "Đó là duyên phận cuộc đời em ạ!". Nhưng tôi hiểu, chính anh là thỏi nam châm đã hút được sự trợ giúp của những người như tôi đến với mảnh đất miền Trung này, cũng như những công việc vì dân mà anh đang và sẽ làm.

Hẹn gặp anh ở Hà Nội nhé! Ra đấy lạnh chứ không ấm áp như ở đây đâu! 
Hà Nội 1/1/2013

Hồ Xuân Mãn: Nhớ đêm về xóm Bồ

Tạp Văn09:34 | 10/12/2012
HỒ XUÂN MÃN
(Nguyên UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế)

Năm 1973, để chuẩn bị cho ký kết hiệp định Paris, Khu ủy và Quân khu Trị Thiên - Huế chủ trương tổ chức các lực lượng (bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) tổ chức đánh chiếm các căn cứ và phân chi khu địch để giành đất, nắm dân, cắm cờ giành quyền làm chủ.
Nhớ đêm về xóm Bồ
Đồng chí Hồ Xuân Mãn, Bí thư tỉnh uỷ, thăm và giao nhiệm vụ cho lãnh đạo xã Hồng Thuỷ - Ảnh: internet
Lúc đó tôi là Trưởng Công an, cùng với lực lượng xã đội Phong An (Phong Điền) nhận nhiệm vụ phối hợp với du kích xã Phong Sơn tổ chức, nghiên cứu địa bàn dẫn đường đưa Trung đoàn 1 Sư 324 do anh Phan Thỏa làm Trung đoàn trưởng (nay đã nghỉ hưu sống ở Đông Hà - Quảng Trị) về địa bàn hoạt động của mình.

Đó là công việc không hề đơn giản, bởi ngoài dẫn đường, tìm nơi trú quân, đặt trận địa cối 120 ly..., chúng tôi còn được giao nhiệm vụ phải dựa vào dân để lo mọi thứ từ hậu cần, thuốc men, tải thương, chăm sóc thương binh, mai táng liệt sĩ... cho cả Trung đoàn.

Trên thực tế lực lượng du kích, an ninh chúng tôi thời điểm đó không nhiều. Cả Phong An và Phong Sơn điểm lại chỉ có chừng 10 người nhưng nhờ chú trọng xây dựng lực lượng tại chỗ nên hậu thuẫn cho chúng tôi là 2 chi bộ, 2 chi đoàn thanh niên, 2 đội du kích và một số an ninh mật hoạt động hợp pháp trong lòng địch.

Chính họ là tai mắt, đầu mối, phối hợp công tác và chở che cho chúng tôi bám trụ địa bàn và sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ mới khi được Đảng và cách mạng tin tưởng giao phó, nhờ vậy mà chỉ trong vòng 1 tuần triển khai chúng tôi đã lo liệu, chuẩn bị đầy đủ mọi thứ.

Đêm trước ngày ký hiệp định Paris, Trung đoàn 1 từ chiến khu theo dẫn đường của chúng tôi đã chiếm lĩnh trận địa. Đúng 23 giờ đêm 26/1/1973 quân ta tổ chức đánh chiếm Phân Chi khu quân sự xã Phong An (đóng ở trụ sở UBND xã Phong An hiện nay) và tiếp đó đánh chiếm mục tiêu bắc cầu An Lỗ, đẩy lực lượng cảnh sát dã chiến, lực lượng địa phương quân tháo chạy qua vùng chùa Long Quang thuộc địa phận của thị xã Hương Trà bây giờ.

6 giờ ngày 27/1/1973. Sau khi Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đồng loạt phát thông báo Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực thì cả một miền dọc sông Bồ từ Hiền Sỹ đến An Lổ rợp cờ Mặt trận dân tộc giải phóng.

Bộ đội và nhân dân vô cùng phấn khởi vì nghĩ rằng sau nhiều năm chìm trong máu lửa của chiến tranh, quê hương đã có hòa bình, dù chưa trọn vẹn!

Trong những ngày ngắn ngủi đó, theo chỉ đạo của trên, chúng tôi đã gấp rút tổ chức bộ máy quân quản để lãnh đạo và chỉ đạo nhân dân đấu tranh buộc địch thi hành hiệp định Paris. Và sự ngây thơ đó đã bị trả giá!

Một tuần sau, địch tung đại đội Biệt động quân đánh thăm dò, thấy ta phản ứng yếu ớt nên 2 ngày sau chúng đã quyết định tung Tiểu đoàn Biệt động quân và Đại đội Cảnh sát dã chiến có xe tăng yểm trợ tiến hành phản kích và đã đẩy toàn bộ lực lượng của ta ra khỏi địa bàn Phong An!

Chưa dừng lại, chúng tiếp tục truy kích. Chiến sự nổ ra ở khu vực khe nước nóng Thanh Tân. Thấy Trung đoàn 1 thương vong nhiều, Quân khu Trị Thiên - Huế điều Trung đoàn 3 (do anh Võ Chót làm Trung đoàn trưởng, sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh QK4) về thay thế và tạo nên phòng tuyến Phong Sơn (cuối năm 1973, Trung đoàn 4 do anh Nguyễn Quốc Khánh làm Trung đoàn trưởng được Quân khu Trị Thiên - Huế cử về thay thế Trung đoàn 3).

Sau khi tái chiếm Phong An, địch tiến hành bình định, thanh lọc và với sự chỉ điểm của bọn gián điệp, đội ngũ cơ sở hợp pháp của ta bị lộ nên chúng đàn áp rất khốc liệt.

Đến mãi bây giờ tôi vẫn không thể nào quên tấm gương kiên trung của các chị Hoàng Thị Quả (Bí thư chi bộ hoạt động hợp pháp), chị Nguyễn Thị Bê (du kích mật) và chị Giãnh (du kích mật). Cả 3 chị đều ở độ tuổi thanh xuân đã bị chúng bắt, hãm hiếp, đánh đập hành hạ rất dã man nhưng vẫn cắn răng chịu đựng, không hé một lời.

Bất lực, bọn chúng quyết định thủ tiêu bằng cách trói cả 3 chị thành một chùm rồi ném xuống cầu An Lổ. Hai chị Hoàng Thị Quả, Nguyễn Thị Bê hy sinh, còn chị Giãnh may mắn thoát chết nhờ dây trói bị đứt, sông Bồ lại vào mùa kiệt nên khi tỉnh dậy chị Giãnh đã bò được vào bờ (hiện chị còn sống ở thôn Phò Ninh, xã Phong An).

Trước tình hình như thế, thực hiện chủ trương của Huyện ủy Phong Điền, một mặt chúng tôi tìm đường giúp Trung đoàn 1 rút quân (khổ nhất là chuyển đại đội cối 120 ly) và mặt khác lực lượng của 2 xã Phong An, Phong Sơn phải tìm mọi cách đưa số cơ sở, nhất là đảng viên, cốt cán bị lộ ra vùng giải phóng và gần 20 gia đình cơ sở cách mạng đã kịp thoát vòng vây giặc, lập nên làng giải phóng tại Tam Dần.

Sau khi Trung đoàn 1 rút lui, số anh em du kích, an ninh ở Phong An còn lại rất ít. Thôn Phò Ninh thời điểm có tôi, anh Đợi, anh Minh, anh Kiếm; ở thôn Vĩnh Hương có các anh: Quyền, Cầu, Rạm, Hùng. Chúng tôi đào hầm ở các rú để bám dân, bám địa bàn, còn địch thì cho xe cày ủi vùng giáp ranh và tiến hành bình định các thôn. Để thể hiện quyền kiểm soát chúng buộc các nhà phải sơn, kẻ lên tường hoặc mái lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Bị địch khủng bố, ngoài số bị bắt, số cơ sở còn lại phải chạy trốn khắp nơi, đặc biệt có chị Châu Thị Thỏn, Bí thư chi bộ xã Phong Sơn (cơ sở nuôi dưỡng nhà văn Nguyễn Quang Hà, nguyên TBT Tạp chí Sông Hương) và mẹ Trần Thị Con, Chi ủy viên Chi bộ Phong Sơn (mẹ vợ của Bác sĩ Dương Quát nay nghỉ hưu ở Đông Hà - QuảngTrị).

Sau hơn nửa tháng kiếm tìm, cuối cùng chúng tôi được chị Nuôi, một đảng viên hợp pháp ở xóm Bồ báo cho biết đã liên lạc được với chị Châu Thị Thỏn, mẹ Trần Thị Con và cả nhà họ hiện đang trú trong nhà của chị.

Xóm Bồ là vùng lõm của thôn Bồ Điền xã Phong An, nằm phía dưới QL1 và tiếp giáp với xã Phong Hiền nên địch ít chú ý. Thế là trong đêm, từ Phò Ninh tôi và anh Kiếm cắt đường tìm về xóm Bồ để đưa cả hai gia đình ra vùng giải phóng. Thấy nhà chị Nuôi đỏ đèn - tín hiệu an toàn, chúng tôi xâm nhập và tổ chức đưa họ đi. Cuộc giải cứu 2 gia đình diễn ra trong lặng lẽ.

Vì không có giao liên dẫn đường nên tôi và anh Kiếm không biết điểm nào có địch phục kích để mà tránh, trong khi đó trên tuyến QL1, quãng từ An Lỗ ra KM 23 địch bố trí nhiều điểm chốt chặn.

Nhờ thông thuộc địa hình, thay bằng trở lại con đường đã đi, 2 chúng tôi quyết định từ xóm Bồ ngược ra phía bắc vượt qua trảng cát Phong Hiền rồi men theo tuyến giao liên của Quảng Điền để đưa họ lên Vĩnh Hương.

Đó là đêm trăng rất sáng. Mọi vật rõ mồn một, nhất là khi qua trảng cát mà rú đã bị cày nát ở Phong Hiền. Nếu địch phát hiện, chắc chắn chết nhiều hơn sống. Dù có hy sinh cũng phải qua, nếu chần chừ không đưa gia đình chị Thỏn và mẹ Con trốn thoát thì chắc chắn họ sẽ bị địch thủ tiêu như chị Quả, Chị Bê. Chị Châu Thị Thỏn là vợ liệt sĩ có 2 con đứa con trai chưa đầy 10 tuổi. Còn mẹ Trần Thị Con, chỉ có mình Hiền là con gái, lúc đó chừng 15 tuổi.

Để vượt qua trảng cát, tôi đi trước và cõng cháu Đức, anh Kiếm đi sau cùng, cõng cháu Thế. Số còn lại đi giữa, phòng thất lạc.

Cả đoàn lặng lẽ đi trong đêm, đến gần nửa đêm về sáng thì đến QL1, đoạn KM23. Dừng lại, tôi băng qua đường quan sát. Thấy không có động tĩnh gì mới quay lại cõng cháu Đức và dẫn đoàn cùng đi. Mãi đến 5 giờ sáng, sau khi băng qua rất nhiều đồi, đoàn chúng tôi mới tới được rú Vụng Côm. Đây là nơi anh em du kích Vĩnh Hương hay ở, vì sợ bị vấp phải mìn nên không dám vào. Ngồi đợi một lúc mới thấy anh Cầu ra ngụy trang đường vào căn cứ nên tôi gọi. Anh Cầu mừng quá, hỏi ngay: ai đi sau mà đông rứa, lại còn có cả con nít?

Suốt một ngày ở lại đây, đến tối, tôi bắt được liên lạc và đưa 5 người về vùng giải phóng Phong Sơn. Sau khi bàn giao họ cho anh Tuy giao liên, tôi quay trở lại Phong An tiếp tục bám trụ cho đến ngày quê hương giải phóng.

Mới đó mà đã gần 40 năm...

Cháu Đức đêm nào tôi còn cõng trên lưng nay đã là Thượng tá, Thị đội trưởng Hương Trà. Em Hiền đã trở thành bác sĩ và có cháu nội, cháu ngoại...

Chuyện đã lâu nhưng với tôi kỷ niệm của tình quân dân ấy vẫn đong đầy, vì ngoài trách nhiệm nó còn thể hiện tình yêu thương với đồng chí, đồng đội, nhất là lúc khốn khó.

H.X.M
(SH286/12-12)

Thơ Sông Hương 12-12

17:22 | 28/12/2012
Hoàng Anh Tuấn - Ngọc Tuyết - Nguyễn Thánh Ngã - Khaly Chàm - Mai Văn Hoan - Võ Văn Luyến - Vũ Kim Liên - Lê Vy Thủy
Thơ Sông Hương 12-12
Tranh sơn dầu "Phố biển" của HS Nguyễn Thị Minh Tâm


Những ngôi mộ vô danh
MAI VĂN HOAN

Anh nằm lại với làng buôn
Với nhà rông với suối nguồn Tây Nguyên
Anh nằm lại với cồng chiêng
Phơ phơ lau trắng dọc triền ba zan
Anh nằm lại giữa nghĩa trang?
Giữa thung sâu? Giữa đại ngàn thẳm xanh?

Muôn nghìn ngôi mộ vô danh
Thịt xương hóa đất, tên thành khói sương…

Anh khắc khoải nhớ quê hương
Nhớ cha mẹ, nhớ mái trường thân yêu
Nhớ người tặng chiếc khăn thêu
Nhớ bờ tre, nhớ cánh diều tuổi thơ…

Cây dừa trên bến sông xưa
Trải bao mưa nắng vẫn chờ đợi anh!

M.V.H
(SH286/12-12)
TẠP CHÍ SÔNG HƯƠNG - SỐ 286 (T.12-12)

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Chủ nhân của 3.000 USD thưa chuyện với anh Mãn


Thứ Hai, 25/01/2010 - 00:26
Bí thư Thừa Thiên Huế:

 
Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế, Hồ Xuân Mãn

(Dân trí)

Trong tham luận tại Hội nghị toạ đàm các điển hình tiên tiến “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, ông có đề cập tới việc đã báo cáo Thường vụ Tỉnh uỷ ngay sau khi có phong bì 3.000 đô la gửi tới mình. Ông có thể nói rõ hơn về sự việc này?
Hôm đó, tôi vừa đi công tác về, vợ tôi chuyển cho một tập tài liệu. Trong tập tài liệu có một phong bì, tôi tưởng đó là đơn thư, nhưng mở ra thì thấy tiền. Thấy đây là một sự việc không bình thường cho nên sáng hôm sau đến cơ quan, tôi mời Thường vụ, mời cơ quan Công an đến nói sự việc và giao tài liệu cho công an điều tra.
Số tiền đó tôi quyết định sung vào công quĩ để xoá nhà tạm cho đồng bào dân tộc. Về quá trình điều tra, đến nay công an cũng chưa phát hiện được đối tượng là chủ nhân của số tiền đó.
Trước đó ông có bao giờ gặp phải tình huống tương tự và tại sao ông quyết định báo cáo ngay vụ việc?
Tôi chưa từng gặp việc như thế.
Về số tiền đó, mình cất đi cũng chẳng ai biết, nhưng điều cơ bản là mình tự giác. Mình thấy việc đó không đúng, không nên làm vì như Bác Hồ nói, việc gì đúng phải quyết tâm làm cho bằng được, còn việc gì sai thì kiên quyết không làm.


CHỦ NHÂN CỦA 3.000 USD THƯA CHUYỆN VỚI ANH MÃN

Từ lâu tôi im lặng, không phải tôi sợ ông tố cáo tôi tội hối lộ, tôi là người có đạo đức và biết luật pháp, cơ quan chức năng không tìm thấy dấu hiệu tội đưa hối lộ khoản tiền 3.000 USD của tôi đâu...Cha tôi dạy "miệng quan, trôn trẻ", "miệng nhà quan có gang có thép, nói ngang cũng được, nói ngược cũng xong", tôi chưa muốn phiền phức...
Ông không nên nói: "3.000 USD không có chủ nên sáng hôm sau đến cơ quan, tôi mời Thường vụ, mời cơ quan Công an đến nói sự việc và giao tài liệu cho công an điều tra.".

Ông là người mau quên, ông từng đến nhà tôi chơi và quên cả cặp tài liệu, sáng hôm sau tôi vội vàng mang đến tận nhà cho ông, ông còn có lời cảm ơn...tôi có báo cho công an điều tra đâu? mà giả sử có đi báo công an họ cũng không cần điều tra, vì họ thừa biết ngay là của ông, họ còn chê tôi là "hâm".

Việc 3.000 USD trong tay ông là của ông, ông cho ai hoặc mua sắm cái gì là quyền của ông. Cặp tài liệu trong đó có tiền, ông đã thừa nhận có 3.000 USD (tôi cũng chấp nhận chỉ có 3.000 USD, tôi không cãi vì không có bằng chứng) là tiền của tôi quên tại nhà ông...

Bây giờ ông hết quyền can thiệp vào cơ quan chức năng, nếu ông vu khống tôi tội hối lộ thì thời hiệu xử lý đã hết, ông phải nói được tôi hối lộ về việc gì?

Để tránh phiền phức cho ông về pháp lý, trước hết tôi đề nghị ông: CHO TÔI XIN LẠI khoản tiền ông đã thừa nhận tôi bỏ quên tại nhà ông,đó là khoản tiền của vợ tôi sai tôi đi đổi tiền Việt để chồng tiền mua nhà, tôi bận chưa thực hiện thì bị quên tại nhà ông...tôi đến nhà ông bị quên tài liệu + tiền hoặc tôi đến để đưa hối lộ là hai việc khác nhau, đã đưa hối lộ thì đội ngũ lobby ở tỉnh ta không thiếu, tôi không dại gì mà đưa trực tiếp cho vợ ông...đã biết hối lộ thì phải biết thỏa thuận, tránh trường hợp bị lật kèo, tiền mất tật mang...việc ngày mai ông vội vàng báo cáo...tôi không hiểu được ông là người như thế nào...trong xếp tài liệu không chỉ có tên tôi, mà còn có sơ yếu lí lịch và cả gia phả nhà tôi nữa...

Tôi vô tâm bị quên, ông cho tôi xin lại, đối với gia đình tôi đó là khoản tiền không nhỏ.



  1. Tránh đi theo vết xe đổ của Hồ Xuân Mãn
  2. Chân lý trước mắt ta thôi
  3. Cán bộ và luân chuyển cán bộ sau 10 năm thực hiện 
  4. Đôi điều suy nghĩ về Huế (tt)
  5. Đôi điều suy nghĩ về Huế
  6. Hồ Xuân Mãn Cuộc
  7. Chỉ có một khả năng...
  8. Tâm tư người lính già
  9. Lý Thông đời mới
  10. Báo chí viết về AHLLVTND HỒ XUÂN MÃN
  11. Buổi gặp gỡ của chiến sĩ an ninh
  12. Tường thuật buổi làm việc của UBKTTW với CCB Phong...
  13. Ngày kị lần thứ 40 ở thôn Phò Ninh
  14. Bàn tay không che được bầu trời
  15. Việt Cộng viếng đồng đội tại Nghĩa trang Liệt sĩ H...
  16. HỒ VIẾT BÁ & BẢN THÀNH TÍCH CỦA ÔNG HỒ XUÂN MÃN
  17. Gặp người biệt động thành Huế từng lên truyền hình...
  18. Thi hành kỷ luật khai trừ khỏi Đảng và đình chỉ ch...
  19. Mùa xuân năm 1975, Mãn đứng ở đâu?
  20. Thượng bất chính, hạ tắc loạn
  21. Ủy ban KTTƯ: 30/6/2012 giải quyết xong danh hiệu A...
  22. "Vua"Huế đi săn thời nay
  23. Mãn "ĐI" làm anh hùng chứ không có "CHẠY"...
  24. Xin hỏi Trần Văn Minh người bí thư thầm lặng...27 ...
  25. Bí thư tỉnh ủy Hồ Xuân Mãn tự kể về nhiều cái nhất...
  26. Hồ Xuân Mãn tự viết tạp văn đăng trên Tạp chí Sông...
  27. Bài báo của Quốc Anh - Thảo Nguyên đăng trên báo ...
  28. Bài báo của Phan Bùi Bảo Thy đăng 2 số trên Báo An...
  29. Bài báo của Hữu Thu - Bảo Hân đăng 2 số trên Báo Đ...
  30. Nhân Dân Tự Vệ VNCH
  31. Đơn khiếu nại về thành tích khai man của Bí thư tỉ...
  32. Một bài bình luận về "anh hùng" trên Báo Lao Động
  33. Xào xáo làm báo kiểu Phan Bùi Bảo Thy
  34. Hữu Thu...tự bán rẻ nhân cách với một giá bèo
  35. Mãn lên chức bí thư tỉnh ủy ở phút 89...
  36. Trung tá Hồ Xuân Phương
  37. Chủ nhân của 3.000 USD thưa chuyện với anh Mãn
  38. Từ bài báo "VỀ LẠI PHONG ĐIỀN"
  39. Đất cố đô có "vua"!
  40. XIN HỎI ÔNG BÍ THƯ TỈNH UỶ
  41. BÍ THƯ TỈNH UỶ THỪA THIÊN HUẾ, HỒ XUÂN MÃN

Cán bộ xã phải công khai xin lỗi dân


SGGP:: Cập nhật ngày 20/07/2006 lúc 01:43'(GMT+7)

Chiều 19-7, ông Hồ Xuân Mãn, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế đã tiến hành kiểm tra việc xử lý vi phạm của những cán bộ xã Phú Xuân, huyện Phú Vang trong việc thực hiện di dân vạn đò và cố ý làm trái chính sách định cư dân vùng thiên tai của Thủ tướng.
Người dân vạn đò Phú Xuân (Thừa Thiên - Huế).
Ông Hồ Xuân Mãn cho rằng: Việc sai phạm của những cán bộ xã Phú Xuân làm mất uy tín của Đảng bộ xã, mất cán bộ, mất niềm tin của nhân dân.
Ông Hồ Xuân Mãn yêu cầu huyện Phú Vang phải tập trung công khai minh bạch các khoản mà xã Phú Xuân đã thu của dân cái nào đúng cái nào sai và cho dân biết.
Đặc biệt, cần công khai xin lỗi dân thôn Lê Bình và giải thích cho dân hiểu để trả lại các khoản mà cán bộ xã Phú Xuân đã thu sai của 21 hộ dân vạn đò, đồng thời huyện Phú Vang và xã Phú Xuân đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu định cư kịp mùa mưa bão năm nay.
PH.L.


Đồng chí bí thư tỉnh ủy chỉ đạo như vậy là đúng rồi, phải vì quyền lợi của dân mà trị mấy thằng quan tham. 

Hoan hô đồng chí bí thư tỉnh ủy.

Xin đồng chí lưu ý một số cán bộ côi tỉnh kéo nhau đi nhậu nhẹt trong giờ hành chính, say sưa còn quấy rối tình dục phụ nữ, hành vi rất thiếu văn hóa...đã không biết xin lỗi phụ nữ vì việc làm sàm sở của mình, còn ra lệnh đổ bát cơm thừa của người ta nữa...

Việc sai phạm của những cán bộ tỉnh làm mất uy tín của Đảng bộ tỉnh, hư cán bộ, mất niềm tin của nhân dân.

Thưa đồng chí bí thư tỉnh ủy, còn cái vụ làm thương binh giả, làm anh hùng dổm nữa ạ...